(DNSG) - Miền Tây Thanh Hóa luôn gợi nhớ một vùng đất hiểm trở nhưng cũng vô cùng đẹp đẽ và lãng mạn. Tây Thanh Hóa trong con mắt thi sĩ Quang Dũng cùng đoàn quân Tây Tiến năm xưa là:
< Ruộng bậc thang vàng óng nơi đại ngàn.
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Bây giờ không chỉ có một miền Tây Thanh Hóa của bao hoài niệm, của lòng ngưỡng vọng mà còn là vùng đất xanh tươi với những thửa ruộng bậc thang, bản làng nhỏ xinh của cuộc sống hiện đại.
Miền Tây xứ Thanh ấy đang là cung đường phượt hay du lịch sinh thái với trục Cẩm Thủy - Bá Thước - Quan Hóa (Thanh Hóa) và kết thúc ở Mai Châu (Hòa Bình), hoặc ngược lại.
1. Chẳng cần lang thang đến tận Sài Khao, Mường Lát mà chỉ phóng xe từ đường Hồ Chí Minh ngược theo tỉnh lộ 217 rồi quốc lộ 15C thì những gì hoang sơ của rừng núi, hiểm trở của địa hình phía Tây Thanh Hóa đã thấm đẫm hồn người.
Tạm biệt những người bạn ở “suối cá thần” Cẩm Lương, Cẩm Thủy, chúng tôi nhằm hướng Tây thẳng tiến. Đường lên miền Tây xứ Thanh đã được trải nhựa, cuộc sống của cư dân có phần khấm khá.
Dulichgo
Chúng tôi dừng chân bên cầu La Hán ở thị trấn Cành Nàng (Bá Thước). Đã bắt gặp sông Mã ở thị trấn Cẩm Thủy, đến đây sông Mã lại hiện ra với một dáng vẻ hoàn toàn khác. Đứng trên cầu nhìn dòng sông, cảm giác như chóng mặt trước hun hút con nước mênh mang.
Sông Mã nơi này là dáng vẻ hoang sơ và da diết buồn như Quang Dũng đã tả cùng đoàn quân Tây Tiến năm nào. Một xóm chài với vài con thuyền nan không làm cho cảnh vật sinh động hơn mà còn gợi sự chòng chành sông nước những kiếp người.
Xe chúng tôi lại lăn bánh. Miền đồng bằng dần dần thu nhỏ lại để nhường tầm mắt cho những vạt rừng thâm u. Những cái tên như Bản Tôm, Phố Đoàn, Bản Dốc, Bản Hiêu nghe rất xa lạ nếu như lữ khách không xem bản đồ trước.
2. Phố Đoàn được xem như thị tứ của vùng Pù Luông, là nơi hiếm hoi tìm thấy phòng nghỉ trong một nhà tầng bê tông có sóng wifi. Nơi đây dành cho những ai đã lang thang mấy ngày trong những cánh rừng để có chút phố xá, hoặc như chúng tôi tới Phố Đoàn để mua vài vật dụng thiết yếu trước khi tiến sâu vào miền sơn cước.
Bác Hà Đình May - chủ một tiệm tạp hóa ở Phố Đoàn vui vẻ tiếp chuyện chúng tôi. Bác cho biết: “Đường từ đây lên Bản Hiêu không xa nhưng khó đi, nếu trời mưa lại càng trơn trượt. Các cháu lên Son, Bá, Mười thì đường bê tông nhưng rất dốc và vẫn còn hiểm trở”.
Đường tới Bản Hiêu (xã Cổ Lũng, Bá Thước) đúng là đầy thử thách như bác May đã cho biết. Con đường đất nhỏ xíu chỉ vừa bánh xe chạy men theo những triền núi, lên lên xuống xuống lòng vòng vài kilomet mà cảm thấy như xa xôi lắm.
Bản Hiêu nằm giữa một thung lũng, xung quanh là màu xanh của rừng núi. Nơi đây đã là vùng lõi của Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông 17.662 ha, có 1.542 loài thực vật và 908 loài động vật, trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm được xếp trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ thế giới, như thông Pà Cò, nghiến, lan hài, kim tuyến đá vôi, voọc xám, báo gấm, sơn dương, gấu đen châu Á.
Sau hơn một giờ cuốc bộ, chúng tôi tới được một con thác nhỏ, quanh con thác có mấy ngôi nhà sàn khá khang trang dành cho du khách, hầu như vắng bóng nhà dân hoặc đâu đó thấp thoáng một nếp nhà đã gần như bị cây rừng che khuất.
Dulichgo
Từ bản Hiêu trở ra, chúng tôi gặp một đoàn khách nước ngoài. Ba lô trên lưng và gậy cầm tay, các chàng trai, cô gái Tây rất thích đi bộ qua các bản làng, đồng quê để khám phá cảnh vật và cuộc sống một vùng đất xa lạ. Tiếng cười nói vui vẻ và dáng vẻ, trang phục du lịch bụi của họ đã làm cho chốn núi rừng có nét tươi mới. Vừa thấy chúng tôi, họ dơ tay “Xin chào!”, lơ lớ mà rất đỗi thân thiện.
3. Nếu như Bản Hiêu thử thách đôi chân lữ khách thì hành trình từ Phố Đoàn lên bản Cao, bản Trình, bản Hin... tiến tới Pù Luông là bản Son, bản Bá, bản Mười lại thử thách sức khỏe “con xế”. Cung đường chỉ gần 20 kilomet nhưng ngốn xăng bằng cả 100 kilomet khi chạy dưới đồng bằng. Rất nhiều đoạn cua dốc dài, xe phải về số 1, gầm rú ì ạch từng mét đường.
Son, Bá, Mười xa xôi, hiểm trở nhưng vẫn là đích cần tới của những ai đã vào Pù Luông. Lên đến vùng đất này có nghĩa bạn đang ở lưng chừng trời với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển.
Cái sảng khoái “cả đất trời nằm gọn trong tầm mắt” khiến chúng tôi lại nhớ tới một câu thơ của Không Lộ Thiền Sư trong bài Ngôn hoài đã từng học thời phổ thông:
Có khi đỉnh núi trèo lên thẳng
Một tiếng kêu vang lạnh cả trời
Đứng trên bản Son nhìn thấy những bản làng thuộc xã Cổ Lũng nhỏ xíu phía xa mà mình vừa trải qua. Khí hậu ở Son, Bá, Mười lành lạnh cuối Thu dù trời vẫn có nắng. Cuộc sống bình yên và dường như trôi rất chậm tại đây làm ai đó đến từ chốn thị thành phải bâng khuâng...
Mùa Đông vùng đất này có lúc nhiệt độ xuống tới 0. Cũng bởi đường sá cách trở, thời tiết khắc nghiệt, nhất là mùa Đông nên chẳng cô giáo nào lên đây cắm bản dạy học, nên trường nào cũng toàn thầy giáo.
Dulichgo
Những đứa trẻ tíu tít bên nhà sàn, sau phút e ngại với người lạ, đã bắt chuyện rồi đòi chúng tôi chụp ảnh. Thích thú khi được xem lại hình của mình, chúng vui vẻ và mời bằng được chúng tôi vào nhà. Một điều khá thiệt thòi cho nơi đây là vẫn chưa có điện nên cuộc sống về đêm tăm tối lắm.
4. Thượng sơn rồi lại hạ sơn. Chúng tôi không nhớ đã đi qua bao bản người Thái, người Mường, quyết định vùi mình một đêm trong bản Kho Mường (xã Thành Sơn, Bá Thước) hẻo lánh.
Kho Mường có đến 99% người Thái, cuộc sống hầu như tự cung tự cấp. Sau khi khách du lịch nước ngoài đến Kho Mường và dừng chân ở đây thì có hai hộ dựng lại nhà sàn làm homestay.
Người miền núi quý khách như người nhà, chẳng “chặt chém” bao giờ, khiến chúng tôi vô cùng cảm mến. Gia chủ có con gà, con vịt hoặc nắm gạo nếp mang ra nấu và cùng ăn với khách nghỉ qua đêm. Họ còn coi du khách như những người bạn đến thăm gia đình chứ chẳng bao giờ lạnh lùng theo kiểu mua - bán, thu tiền là xong.
Tạm biệt Kho Mường với bao điều đáng nhớ, dù chỉ ở lại một đêm, chúng tôi thẳng tiến theo quốc lộ 15C từ bản Pà Khà ngược lên “nóc nhà” Pù Luông với độ cao 1.700m.
Đường đến với nóc nhà Pù Luông khá hiểm trở và rất ít người đi được. Ai muốn chinh phục độ cao ấy phải có dân bản địa hoặc kiểm lâm dẫn đường.
5. Chúng tôi rời Pù Luông sau khi qua bản Hang, bản Đốm (xã Phú Lệ, Quan Hóa). Một hành trình xuyên qua vùng đại ngàn hiểm trở, tuy vất vả nhưng đã được trải nghiệm đúng nghĩa. Khi ra đến quốc lộ 15, chúng tôi gặp từng đoàn khách tây, ta và đặc biệt là các bạn trẻ tiến về Pù Luông.
Nhiều người cho rằng Mai Châu giờ đã không còn hấp dẫn, bởi mòn bước chân, quá quen thuộc. Nếu đi hướng quốc lộ 6 qua Hòa Bình tới Mai Châu, nhiều người chỉ lướt qua nơi đây để dành hành trình cho Pù Luông. Và ngược lại, như chúng tôi đi từ hướng đường Hồ Chí Minh lên đã trải qua mấy ngày mệt mỏi, giờ chỉ mong vụt qua Mai Châu để về Hà Nội.
Theo Diệp Băng (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyến đi kỳ thú. Hiển thị tất cả bài đăng
Bến Sỏi mùa đốt đồng…
(TTO) - Một ngày "sống thử" đời thôn dã ở vùng biên giới Tây Ninh với hai ông bà già nông dân chính hiệu - nhẹ nhàng, hiếu khách và nhân hậu.
< Một căn nhà ven sông nơi Bến Sỏi.
Chuyến xe xuất hành đi viếng chùa ở núi Bà Đen lăn bánh từ 3g sáng. Đến ven núi là vừa hửng sáng, 5g. Vì đi sớm nên chưa đến 9g mọi người đã xuống núi tề tựu. Một người trên xe đề nghị: “Hay là ghé nhà ông bà Mười ở Bến Sỏi. Cũng gần đây. Mùa này lúa mới gặt xong, cá không nhiều nhưng vịt thì mập lắm, ăn lúa sót”.
< Khói đốt đồng xa.
Cả xe hồ hởi. Ông bà Mười là nông dân chính hiệu vùng biên giới Tây Ninh. Hai ông bà đã trên 70, đầy đủ cháu nội ngoại (thậm chí có tới cháu cố) nhưng vẫn “hai mình” ra một bến sông hoang vắng khu Bến Sỏi (xã Thành Long, huyện Châu Thành, Tây Ninh) xây nhà, mùa mưa làm cá, mùa nắng làm ruộng.
Trên xe có mấy người từng ra nhà ông bà Mười "sống thử" đời thôn dã. Mùa mưa thì nước ngập mênh mông, láng lung đầy rong và bông súng. Mùa nắng thì tùy theo tháng mà lúa xanh, lúa ngậm đồng, lúa chín... Cá, ốc bươu, chem chép, chuột đồng thì mùa nào thức nấy.
< Xe chở rơm trên đường lộ.
Dulichgo
Xe chạy qua khu vực cầu Bến Sỏi, nơi màu xanh lục bình phủ kín, rồi dừng lại ở một con lộ đất. Cả xe xuống đi bộ, mùa khô nên cứ băng ruộng hướng tới nhà ông bà Mười, căn nhà chòi nổi bật trên cánh đồng xa, chung quanh ruộng đã gặt xong lâu, trơ gốc rạ cháy vàng. Nhiều chỗ cháy đen do người nông dân đốt để dọn đất lấy tro bón ruộng.
Bà Mười đầu trần ra đón, dáng xấp sải, da nám đen - cái nắng cháy khô của vùng biên, tóc bạc lơ thơ búi lửng, nhưng nụ cười thì rạng rỡ.
< Nhóm "khách thành phố" băng đồng để đến nhà ông bà Mười.
“Vô ăn cháo vịt, cá thì lớp chiên lớp kho, nấu canh chua đọt lục bình. Cá đồng cá sông không à. Báo sớm nên sáng nay tui đi dặn cá liền. Ăn, nghỉ trưa rồi luộc tiếp ốc và nướng chem chép. Còn chuột, tại đám ruộng gần gặt lâu rồi nên không có chuột. Đám xa kia không biết có không”. Đám khách ồ lên: "Thôi ăn nhiêu đó cũng đủ ứ hự rồi. Với lại mấy đứa trẻ sợ, không biết ăn chuột”.
< Nhà ông bà Mười ở giữa đồng.
Căn nhà chòi của ông bà Mười rộng cỡ đôi ba chiếc chiếu. Mùa dông năm ngoái bị gió lật nóc nên năm nay ông Mười xin xã cho đổ bê tông phần chân, thêm mấy mạnh thường quân tài trợ mái, tuy tôn cũ nhưng còn chắc.
Dulichgo
Ông Mười cười khoe cái miệng móm: "Vô hết đi, ăn mặc tình phỉ sức nghen. Bả nấu hai nồi cơm, một nồi cháo, một nồi canh. Một chảo cá kho, một rổ cá chiên. Ăn không hết là hai thân già nầy "ngậm" hết đó”.
< Vịt đang ăn lục bình.
Mâm cơm dọn ra, gọi là mâm cho oai chứ cánh nam thì trải chiếu lai rai ngoài đám cây gần chỗ mấy cái kho nơi anh Mười để xuồng và dụng cụ làm cá. Phái nữ thì ăn ngay trong nhà, trên sàn. Cái sàn lót ván lộ khe, cứ ăn xong xả xương rau xuống mấy cái rãnh, bên dưới có đám gà tụ sẵn chờ ăn mót.
Đám con nít được ưu tiên cho ăn cơm hay cháo trước, cứ mỗi đứa một tô chạy tứ tung. Mùa ruộng cạn nên cũng chẳng chạy đâu xa ngoài mấy bóng cây. Chạy u một chút đã thấy đứa túm áo chạy về, trong áo là mấy quả trứng gà rồi khoe: "Gà đẻ nhiều lắm”. Thì ra đám gà của bà Mười nuôi thả, chúng ra ruộng ăn lúa rụng rồi đẻ luôn trong mấy góc rơm.
< Bò mẹ và bê con.
"Ăn xong, đi tìm lượm trứng rồi thả vô mấy cái ổ ông Mười dọn sẵn để mấy con gà mái leo lên ấp cho ra gà con", mọi người hướng dẫn. Chỉ chờ có thế, tụi nhỏ ùa ra ruộng tung tăng, có đứa la to: “Vui còn hơn tìm trứng phục sinh nữa hén”.
Dulichgo
Thấy chúng tôi chụp hình những cánh đồng rơm đã cháy, để lại những vệt tro đen. Anh Lực, con trai áp út của ông bà Mười dẫn giải: “Ruộng này gặt lậu rồi. Mới gặt xong nước còn lấp xấp sình nhão. Chủ ruộng cho thả vịt vô ăn lúa. Vịt ăn sạch lúa thì thả bò vô ăn rơm.
< Có khách, ông Mười bơi xuồng đi hái bông lục bình và bông súng.
Rơm khi đó còn xanh, bò ăn tốt lắm. Bò ăn rơm rồi thả phân ra ruộng cho đất thêm tốt. Tới khi đất rơm gì cũng khô queo hết thì chủ ruộng coi đốt. Đốt xong xả mới cày lật, để rơm, tro, phân đất mặt gì cũng vùi xuống. Đất phía dưới trồi lên. Mà khi đó cũng là đúng mùa mưa tới, gieo mạ cấy lúa cho mùa mới”.
< Một ngôi nhà xưa trong vùng.
Anh Lực ngưng một chút rồi tự hào: "Như vậy mới hạn chế thuốc trừ sâu. Chứ vùng mình sống nhờ con cá ruộng cá sông. Xài thuốc nhiều quá con gì cũng chết hết”. Như mọi nông dân thời hiện đại, anh anh quơ tay giải thích thêm:
"Vùng này hợp nhất để trồng lúa, ngoài lộ thì gần đây ngoài rau màu đang trồng thêm xoài, cũng trúng lắm vì có phù sa từ sông Vàm Cỏ Đông”.
< Gian bếp nhà ông bà Mười.
Dulichgo
Buổi trưa Bến Sỏi thật vắng. các nhà đều đóng cửa nghỉ trong nhà. Chúng tôi rủ nhau đi thăm một ao vịt thời hiện đại. Trên bờ cây xanh che bóng bóng mát rượi. Ao sâu dưới thả cá, trên thả vịt, sàn là những tấm lưới để vịt đi vệ sinh.
< Bữa cơm bày ngay trên sàn nhà.
Ngoài thức ăn như cám, lúa... chủ nuôi còn đi móc lục bình về làm rau xanh cho vịt ăn rỉa. Những chú vịt trắng phao, đến lứa là có lái đi thu, rồi lên xe về thành phố thành món vịt quay, vịt tiềm, vịt chiên. Anh chủ ao vui vẻ: “Nuôi bây giờ là phải gia cầm sạch mới tiêu thụ được. Vịt nầy là vịt thịt, vịt đẻ nuôi kiểu khác... ”.
Đi một vòng quay về là đã tới giờ lên xe về lại thành phố. Bà Mười gom cá khô dúi theo: "Về trển buồn buồn nướng ăn”. Ông Mười không nói gì, nhưng mắt buồn buồn.
Anh Lực anh thì nhắn nhe: “Canh mùa mưa xuống nữa. Anh đang trét ghe. Mưa xuống, anh chèo xuồng chở đi ngắm bông súng, bông rong, bông rau dừa. Mùa đó cá ê hề, cắm cái cần nhỏ, móc mồi hạt cơm nguội cũng dính cá rô mề. Rồi cá sặc, cá chạch. Tha hồ nấu lẩu”...
Xe chạy, những người trên xe vẫy tay chào những người ở lại. Bụi biên giới mịt mù, còn lòng người Việt thì ở đâu cũng vậy, cứ nhẹ nhàng, hiếu khách, nhân hậu...
Theo Hằng Đinh (Dulich.Tuoitre)
Du lịch, GO!
< Một căn nhà ven sông nơi Bến Sỏi.
Chuyến xe xuất hành đi viếng chùa ở núi Bà Đen lăn bánh từ 3g sáng. Đến ven núi là vừa hửng sáng, 5g. Vì đi sớm nên chưa đến 9g mọi người đã xuống núi tề tựu. Một người trên xe đề nghị: “Hay là ghé nhà ông bà Mười ở Bến Sỏi. Cũng gần đây. Mùa này lúa mới gặt xong, cá không nhiều nhưng vịt thì mập lắm, ăn lúa sót”.
< Khói đốt đồng xa.
Cả xe hồ hởi. Ông bà Mười là nông dân chính hiệu vùng biên giới Tây Ninh. Hai ông bà đã trên 70, đầy đủ cháu nội ngoại (thậm chí có tới cháu cố) nhưng vẫn “hai mình” ra một bến sông hoang vắng khu Bến Sỏi (xã Thành Long, huyện Châu Thành, Tây Ninh) xây nhà, mùa mưa làm cá, mùa nắng làm ruộng.
Trên xe có mấy người từng ra nhà ông bà Mười "sống thử" đời thôn dã. Mùa mưa thì nước ngập mênh mông, láng lung đầy rong và bông súng. Mùa nắng thì tùy theo tháng mà lúa xanh, lúa ngậm đồng, lúa chín... Cá, ốc bươu, chem chép, chuột đồng thì mùa nào thức nấy.
< Xe chở rơm trên đường lộ.
Dulichgo
Xe chạy qua khu vực cầu Bến Sỏi, nơi màu xanh lục bình phủ kín, rồi dừng lại ở một con lộ đất. Cả xe xuống đi bộ, mùa khô nên cứ băng ruộng hướng tới nhà ông bà Mười, căn nhà chòi nổi bật trên cánh đồng xa, chung quanh ruộng đã gặt xong lâu, trơ gốc rạ cháy vàng. Nhiều chỗ cháy đen do người nông dân đốt để dọn đất lấy tro bón ruộng.
Bà Mười đầu trần ra đón, dáng xấp sải, da nám đen - cái nắng cháy khô của vùng biên, tóc bạc lơ thơ búi lửng, nhưng nụ cười thì rạng rỡ.
< Nhóm "khách thành phố" băng đồng để đến nhà ông bà Mười.
“Vô ăn cháo vịt, cá thì lớp chiên lớp kho, nấu canh chua đọt lục bình. Cá đồng cá sông không à. Báo sớm nên sáng nay tui đi dặn cá liền. Ăn, nghỉ trưa rồi luộc tiếp ốc và nướng chem chép. Còn chuột, tại đám ruộng gần gặt lâu rồi nên không có chuột. Đám xa kia không biết có không”. Đám khách ồ lên: "Thôi ăn nhiêu đó cũng đủ ứ hự rồi. Với lại mấy đứa trẻ sợ, không biết ăn chuột”.
< Nhà ông bà Mười ở giữa đồng.
Căn nhà chòi của ông bà Mười rộng cỡ đôi ba chiếc chiếu. Mùa dông năm ngoái bị gió lật nóc nên năm nay ông Mười xin xã cho đổ bê tông phần chân, thêm mấy mạnh thường quân tài trợ mái, tuy tôn cũ nhưng còn chắc.
Dulichgo
Ông Mười cười khoe cái miệng móm: "Vô hết đi, ăn mặc tình phỉ sức nghen. Bả nấu hai nồi cơm, một nồi cháo, một nồi canh. Một chảo cá kho, một rổ cá chiên. Ăn không hết là hai thân già nầy "ngậm" hết đó”.
< Vịt đang ăn lục bình.
Mâm cơm dọn ra, gọi là mâm cho oai chứ cánh nam thì trải chiếu lai rai ngoài đám cây gần chỗ mấy cái kho nơi anh Mười để xuồng và dụng cụ làm cá. Phái nữ thì ăn ngay trong nhà, trên sàn. Cái sàn lót ván lộ khe, cứ ăn xong xả xương rau xuống mấy cái rãnh, bên dưới có đám gà tụ sẵn chờ ăn mót.
Đám con nít được ưu tiên cho ăn cơm hay cháo trước, cứ mỗi đứa một tô chạy tứ tung. Mùa ruộng cạn nên cũng chẳng chạy đâu xa ngoài mấy bóng cây. Chạy u một chút đã thấy đứa túm áo chạy về, trong áo là mấy quả trứng gà rồi khoe: "Gà đẻ nhiều lắm”. Thì ra đám gà của bà Mười nuôi thả, chúng ra ruộng ăn lúa rụng rồi đẻ luôn trong mấy góc rơm.
< Bò mẹ và bê con.
"Ăn xong, đi tìm lượm trứng rồi thả vô mấy cái ổ ông Mười dọn sẵn để mấy con gà mái leo lên ấp cho ra gà con", mọi người hướng dẫn. Chỉ chờ có thế, tụi nhỏ ùa ra ruộng tung tăng, có đứa la to: “Vui còn hơn tìm trứng phục sinh nữa hén”.
Dulichgo
Thấy chúng tôi chụp hình những cánh đồng rơm đã cháy, để lại những vệt tro đen. Anh Lực, con trai áp út của ông bà Mười dẫn giải: “Ruộng này gặt lậu rồi. Mới gặt xong nước còn lấp xấp sình nhão. Chủ ruộng cho thả vịt vô ăn lúa. Vịt ăn sạch lúa thì thả bò vô ăn rơm.
< Có khách, ông Mười bơi xuồng đi hái bông lục bình và bông súng.
Rơm khi đó còn xanh, bò ăn tốt lắm. Bò ăn rơm rồi thả phân ra ruộng cho đất thêm tốt. Tới khi đất rơm gì cũng khô queo hết thì chủ ruộng coi đốt. Đốt xong xả mới cày lật, để rơm, tro, phân đất mặt gì cũng vùi xuống. Đất phía dưới trồi lên. Mà khi đó cũng là đúng mùa mưa tới, gieo mạ cấy lúa cho mùa mới”.
< Một ngôi nhà xưa trong vùng.
Anh Lực ngưng một chút rồi tự hào: "Như vậy mới hạn chế thuốc trừ sâu. Chứ vùng mình sống nhờ con cá ruộng cá sông. Xài thuốc nhiều quá con gì cũng chết hết”. Như mọi nông dân thời hiện đại, anh anh quơ tay giải thích thêm:
"Vùng này hợp nhất để trồng lúa, ngoài lộ thì gần đây ngoài rau màu đang trồng thêm xoài, cũng trúng lắm vì có phù sa từ sông Vàm Cỏ Đông”.
< Gian bếp nhà ông bà Mười.
Dulichgo
Buổi trưa Bến Sỏi thật vắng. các nhà đều đóng cửa nghỉ trong nhà. Chúng tôi rủ nhau đi thăm một ao vịt thời hiện đại. Trên bờ cây xanh che bóng bóng mát rượi. Ao sâu dưới thả cá, trên thả vịt, sàn là những tấm lưới để vịt đi vệ sinh.
< Bữa cơm bày ngay trên sàn nhà.
Ngoài thức ăn như cám, lúa... chủ nuôi còn đi móc lục bình về làm rau xanh cho vịt ăn rỉa. Những chú vịt trắng phao, đến lứa là có lái đi thu, rồi lên xe về thành phố thành món vịt quay, vịt tiềm, vịt chiên. Anh chủ ao vui vẻ: “Nuôi bây giờ là phải gia cầm sạch mới tiêu thụ được. Vịt nầy là vịt thịt, vịt đẻ nuôi kiểu khác... ”.
Đi một vòng quay về là đã tới giờ lên xe về lại thành phố. Bà Mười gom cá khô dúi theo: "Về trển buồn buồn nướng ăn”. Ông Mười không nói gì, nhưng mắt buồn buồn.
Anh Lực anh thì nhắn nhe: “Canh mùa mưa xuống nữa. Anh đang trét ghe. Mưa xuống, anh chèo xuồng chở đi ngắm bông súng, bông rong, bông rau dừa. Mùa đó cá ê hề, cắm cái cần nhỏ, móc mồi hạt cơm nguội cũng dính cá rô mề. Rồi cá sặc, cá chạch. Tha hồ nấu lẩu”...
Xe chạy, những người trên xe vẫy tay chào những người ở lại. Bụi biên giới mịt mù, còn lòng người Việt thì ở đâu cũng vậy, cứ nhẹ nhàng, hiếu khách, nhân hậu...
Theo Hằng Đinh (Dulich.Tuoitre)
Du lịch, GO!
Đi chợ phiên Cao Sơn
(HQO) - Chúng tôi đến chợ phiên Cao Sơn (Lào Cai) vào dịp cuối năm. Trong cái rét của vùng sơn cước, giữa trập trùng đồi núi, khu chợ phiên này giống như bông hoa rừng mộc mạc, chân chất nhưng thanh sắc của nó lại rất rộn ràng, nồng ấm, góp phần xua tan cái lạnh giá của vùng biên ải.
Từ trung tâm huyện Mường Khương (Lào Cai), mất gần 2 tiếng đồng hồ để vượt qua quãng đường dài 20 km, đường nhỏ, hẹp với những con dốc quanh co, vắt vẻo lưng chừng núi, qua các xã Nấm Lư, Lùng Khấu Nhin, chúng tôi đến với Cao Sơn. Ở độ cao 1.400m so với mặt nước biển, Cao Sơn là nơi quanh năm mây mù bao phủ. Suốt chặng đường lên với Cao Sơn, một bên là vách núi, một bên là vực sâu hun hút, nhiều lần xe phải đi trong màn sương trắng huyền ảo khiến những người dưới xuôi lên như chúng tôi phải nín thở vì… sợ.
Nhưng vẻ đẹp hoang sơ của những ngọn núi cao trùng điệp, hay những thung lũng bình yên trải đầy nắng vàng hanh hao, những triền núi, triền đồi được bao phủ bởi chè và dứa, những cây sa mộc cao lớn mọc thẳng đứng dọc đường đã nhanh chóng hút hồn du khách.
Dulichgo
Dọc con đường về chợ phiên Cao Sơn, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những người dân tộc đang trên đường đến chợ, họ gùi trên lưng hay chở trên xe những sản vật của địa phương. Chợ phiên Cao Sơn là khu chợ của đồng bào dân tộc H’Mông, Phù Lá, Dao và Hán đen sinh sống xung quanh khu vực này. Chợ có từ lâu đời, được họp đều đặn vào thứ Tư hàng tuần. Không giống như các chợ phiên vùng cao khác, chợ Cao Sơn họp khá muộn, tầm 8-9 giờ sáng và tàn chợ vào khoảng 3h chiều.
Chúng tôi đến chợ Cao Sơn khi chợ phiên đang vào lúc đông vui nhất. Nổi bật nhất trong chợ phải kể đến những gian hàng bán đồ thổ cẩm, nơi có từng tốp người mua bán tấp nập. Nằm gần như chính giữa chợ, những gian hàng này thực sự thu hút mọi ánh nhìn cũng như sự quan tâm của không chỉ du khách mà còn của những người dân nơi đây. Chúng tôi mê mải ngắm nhìn hình ảnh những cụ già mân mê từng thớ vải của chiếc áo màu sắc sặc sỡ, những cô gái đang hớn hở lựa chọn cho mình những chiếc váy mới, hay được thỏa sức ngắm nhìn các chàng trai, cô gái dân tộc xúng xính với những bộ váy áo truyền thống rực rỡ sắc màu, những đường nét hoa văn tinh tế, trên đầu là những chiếc ô xòe rộng xinh xắn tạo nên bức tranh sinh động của một phiên chợ vùng cao, là điểm nhấn giữa không gian bao la, mênh mông của núi rừng.
Chị Sùng Chu, người dân tộc H’Mông tại xã Cao Sơn vừa tận tình chỉ dẫn cho khách về những mẫu váy mới, vừa tranh thủ giới thiệu về những bộ trang phục của người H’Mông. Những chiếc váy hình nón cụt với phần thân váy được xếp nếp và xòe rộng, những chiếc áo có cổ lật ra phía sau gáy đặc trưng của người H’Mông, khăn quấn đầu, xà cạp... đi cùng với những dải tua rua trang trí bằng hạt cườm khá đẹp mắt, những chiếc vòng bằng bạc được gắn những chiếc chuông bé xíu... tất cả tạo nên sự sinh động cho gian hàng của chị. Chị cho biết, gần tết Âm lịch, vào khoảng đầu tháng Chạp, người ta mới bán nhiều bộ váy áo truyền thống được làm thủ công đắt tiền để mọi người mua diện Tết.
Bên cạnh những sạp hàng bán đồ thổ cẩm, chợ Cao Sơn còn là nơi trao đổi, mua bán những vật dụng hằng ngày làm từ mây tre đan, đồ khảm bạc, đồ rèn đúc phục vụ cho đời sống, lao động của người dân nơi đây như gùi tre, lưỡi cày, dao quắm, chổi quét nhà… cũng như những sản vật của địa phương và các vùng lân cận như gà đen, rượu thuốc lào, mộc nhĩ, rượu ngô, rượu thóc, các loại củ quả như gừng, nghệ, ớt Mường Khương, thảo quả, mật ong..., những món ăn đặc trưng của vùng cao như thắng cố, phở làm từ nếp nương... hay những món quà vặt được bán ở khu ẩm thực.
Dulichgo
Những người dân ở đây cho chúng tôi biết, đêm trước ngày chúng tôi lên chợ phiên Cao Sơn ở đây trời mưa to, do đó chợ phiên không thật sự đông đúc như nó vốn có. Những ngày thường, đặc biệt, vào dịp tết Nguyên đán, chúng tôi sẽ được thưởng thức thêm những món ăn hấp dẫn như xôi bảy màu, bánh chưng đen, bánh ngô, bánh khúc... và vô số các sản vật của địa phương. Nhưng có lẽ ai đã đến chợ Cao Sơn sẽ không quên được hình ảnh những sạp mía đầy ắp ngay từ đầu chợ. Được biết, mía là món ăn cực kỳ được yêu thích ở Cao Sơn. Loại mía Mường Khương có màu hồng tím, gióng dài, có vị ngọt đậm đà đặc trưng của vùng đất này. Hầu như ai đến chợ ít nhiều cũng phải mua một ít mía, thậm chí mua cả bó, vì thế khu vực này không lúc nào ngớt khách.
Chị Giàng Chanh đến từ xã La Pán Tẩn cho biết, vì chợ chỉ họp mỗi tuần một phiên nên ai ai cũng mong ngày họp chợ. Nhưng người bán cũng như người mua, đến chợ nhiều khi chẳng vì mua - bán mà để được vui, vì thế phiên chợ này giống như liều thuốc tinh thần, là nơi để người bán người mua được gặp gỡ nhau, giao lưu, chuyện trò và kết bạn...
Dulichgo
Một người đàn ông dân tộc có vẻ bề ngoài hiền hậu thu hút sự chú ý của chúng tôi ngay khi nhìn thấy, ông Lùng Dín. Ông đến chợ với chỉ một thúng ớt cay, loại ớt đặc sản của đất Mường Khương, vị cay và thơm nồng chỉ ăn một lần là nhớ mãi.
Trong tiết trời giá rét của những ngày cuối năm, người đàn ông này ngồi lặng lẽ ngắm nhìn dòng người qua lại, gần như ở ông không có cái vội vã của người đang cần bán mua. Sự tĩnh lặng, thư thả của ông khiến cho người ta có cái cảm giác ông đến chợ chỉ đơn giản là để được đắm chìm vào không gian thân thuộc này.
Từ lâu, chợ Cao Sơn được biết đến bởi sự bình dị, gần gũi. Đến chợ, người ta không thấy có sự ồn ào, bon chen hay vội vã, không có cảnh mời chào, níu kéo du khách giống như những khu chợ vùng cao phần nào đã bị thương mại hóa. Cái chân chất, mộc mạc của người vùng cao được thể hiện trong nhịp sống của khu chợ này. Có lẽ chính vì thế chợ Cao Sơn được đánh giá là một trong những chợ phiên của huyện Mường Khương vẫn còn giữ được nét bản sắc độc đáo, trở thành điểm đến hấp dẫn của khách trong nước cũng như nhiều du khách nước ngoài.
Theo Hoài Anh (Báo Hải Quan)
Du lịch, GO!
Lên vùng cao
Từ trung tâm huyện Mường Khương (Lào Cai), mất gần 2 tiếng đồng hồ để vượt qua quãng đường dài 20 km, đường nhỏ, hẹp với những con dốc quanh co, vắt vẻo lưng chừng núi, qua các xã Nấm Lư, Lùng Khấu Nhin, chúng tôi đến với Cao Sơn. Ở độ cao 1.400m so với mặt nước biển, Cao Sơn là nơi quanh năm mây mù bao phủ. Suốt chặng đường lên với Cao Sơn, một bên là vách núi, một bên là vực sâu hun hút, nhiều lần xe phải đi trong màn sương trắng huyền ảo khiến những người dưới xuôi lên như chúng tôi phải nín thở vì… sợ.
Nhưng vẻ đẹp hoang sơ của những ngọn núi cao trùng điệp, hay những thung lũng bình yên trải đầy nắng vàng hanh hao, những triền núi, triền đồi được bao phủ bởi chè và dứa, những cây sa mộc cao lớn mọc thẳng đứng dọc đường đã nhanh chóng hút hồn du khách.
Dulichgo
Dọc con đường về chợ phiên Cao Sơn, thỉnh thoảng chúng tôi bắt gặp những người dân tộc đang trên đường đến chợ, họ gùi trên lưng hay chở trên xe những sản vật của địa phương. Chợ phiên Cao Sơn là khu chợ của đồng bào dân tộc H’Mông, Phù Lá, Dao và Hán đen sinh sống xung quanh khu vực này. Chợ có từ lâu đời, được họp đều đặn vào thứ Tư hàng tuần. Không giống như các chợ phiên vùng cao khác, chợ Cao Sơn họp khá muộn, tầm 8-9 giờ sáng và tàn chợ vào khoảng 3h chiều.
Chúng tôi đến chợ Cao Sơn khi chợ phiên đang vào lúc đông vui nhất. Nổi bật nhất trong chợ phải kể đến những gian hàng bán đồ thổ cẩm, nơi có từng tốp người mua bán tấp nập. Nằm gần như chính giữa chợ, những gian hàng này thực sự thu hút mọi ánh nhìn cũng như sự quan tâm của không chỉ du khách mà còn của những người dân nơi đây. Chúng tôi mê mải ngắm nhìn hình ảnh những cụ già mân mê từng thớ vải của chiếc áo màu sắc sặc sỡ, những cô gái đang hớn hở lựa chọn cho mình những chiếc váy mới, hay được thỏa sức ngắm nhìn các chàng trai, cô gái dân tộc xúng xính với những bộ váy áo truyền thống rực rỡ sắc màu, những đường nét hoa văn tinh tế, trên đầu là những chiếc ô xòe rộng xinh xắn tạo nên bức tranh sinh động của một phiên chợ vùng cao, là điểm nhấn giữa không gian bao la, mênh mông của núi rừng.
Chị Sùng Chu, người dân tộc H’Mông tại xã Cao Sơn vừa tận tình chỉ dẫn cho khách về những mẫu váy mới, vừa tranh thủ giới thiệu về những bộ trang phục của người H’Mông. Những chiếc váy hình nón cụt với phần thân váy được xếp nếp và xòe rộng, những chiếc áo có cổ lật ra phía sau gáy đặc trưng của người H’Mông, khăn quấn đầu, xà cạp... đi cùng với những dải tua rua trang trí bằng hạt cườm khá đẹp mắt, những chiếc vòng bằng bạc được gắn những chiếc chuông bé xíu... tất cả tạo nên sự sinh động cho gian hàng của chị. Chị cho biết, gần tết Âm lịch, vào khoảng đầu tháng Chạp, người ta mới bán nhiều bộ váy áo truyền thống được làm thủ công đắt tiền để mọi người mua diện Tết.
Bên cạnh những sạp hàng bán đồ thổ cẩm, chợ Cao Sơn còn là nơi trao đổi, mua bán những vật dụng hằng ngày làm từ mây tre đan, đồ khảm bạc, đồ rèn đúc phục vụ cho đời sống, lao động của người dân nơi đây như gùi tre, lưỡi cày, dao quắm, chổi quét nhà… cũng như những sản vật của địa phương và các vùng lân cận như gà đen, rượu thuốc lào, mộc nhĩ, rượu ngô, rượu thóc, các loại củ quả như gừng, nghệ, ớt Mường Khương, thảo quả, mật ong..., những món ăn đặc trưng của vùng cao như thắng cố, phở làm từ nếp nương... hay những món quà vặt được bán ở khu ẩm thực.
Dulichgo
Những người dân ở đây cho chúng tôi biết, đêm trước ngày chúng tôi lên chợ phiên Cao Sơn ở đây trời mưa to, do đó chợ phiên không thật sự đông đúc như nó vốn có. Những ngày thường, đặc biệt, vào dịp tết Nguyên đán, chúng tôi sẽ được thưởng thức thêm những món ăn hấp dẫn như xôi bảy màu, bánh chưng đen, bánh ngô, bánh khúc... và vô số các sản vật của địa phương. Nhưng có lẽ ai đã đến chợ Cao Sơn sẽ không quên được hình ảnh những sạp mía đầy ắp ngay từ đầu chợ. Được biết, mía là món ăn cực kỳ được yêu thích ở Cao Sơn. Loại mía Mường Khương có màu hồng tím, gióng dài, có vị ngọt đậm đà đặc trưng của vùng đất này. Hầu như ai đến chợ ít nhiều cũng phải mua một ít mía, thậm chí mua cả bó, vì thế khu vực này không lúc nào ngớt khách.
Chị Giàng Chanh đến từ xã La Pán Tẩn cho biết, vì chợ chỉ họp mỗi tuần một phiên nên ai ai cũng mong ngày họp chợ. Nhưng người bán cũng như người mua, đến chợ nhiều khi chẳng vì mua - bán mà để được vui, vì thế phiên chợ này giống như liều thuốc tinh thần, là nơi để người bán người mua được gặp gỡ nhau, giao lưu, chuyện trò và kết bạn...
Dulichgo
Một người đàn ông dân tộc có vẻ bề ngoài hiền hậu thu hút sự chú ý của chúng tôi ngay khi nhìn thấy, ông Lùng Dín. Ông đến chợ với chỉ một thúng ớt cay, loại ớt đặc sản của đất Mường Khương, vị cay và thơm nồng chỉ ăn một lần là nhớ mãi.
Trong tiết trời giá rét của những ngày cuối năm, người đàn ông này ngồi lặng lẽ ngắm nhìn dòng người qua lại, gần như ở ông không có cái vội vã của người đang cần bán mua. Sự tĩnh lặng, thư thả của ông khiến cho người ta có cái cảm giác ông đến chợ chỉ đơn giản là để được đắm chìm vào không gian thân thuộc này.
Từ lâu, chợ Cao Sơn được biết đến bởi sự bình dị, gần gũi. Đến chợ, người ta không thấy có sự ồn ào, bon chen hay vội vã, không có cảnh mời chào, níu kéo du khách giống như những khu chợ vùng cao phần nào đã bị thương mại hóa. Cái chân chất, mộc mạc của người vùng cao được thể hiện trong nhịp sống của khu chợ này. Có lẽ chính vì thế chợ Cao Sơn được đánh giá là một trong những chợ phiên của huyện Mường Khương vẫn còn giữ được nét bản sắc độc đáo, trở thành điểm đến hấp dẫn của khách trong nước cũng như nhiều du khách nước ngoài.
Theo Hoài Anh (Báo Hải Quan)
Du lịch, GO!
Lên vùng cao
Thung Rếch Xuân này...
Đã từ rất lâu, tôi được nghhe một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian bảo: Một nhánh người Dao tiền đã vượt sang bờ này sông Đà, định cư ở Thung Rếch. Thế mà mãi tận mùa Xuân nay mới được ngược lên miền đất này, Một vùng đất mà đến cái tên cũng đã gợi vẻ nguyên sơ, hứa hẹn những vẻ đẹp chưa bị phai nhạt bởi cuộc sống hiện đại.
Xe chúng tôi lao nhanh qua tỉnh lộ 12B trên đất mường cổ Kim Bôi. Qua dốc Cun là đã vào sâu đất Mường. Ở vùng Mường gốc này ngữ âm, phong tục đã khác xa các vùng Mường ngoài, vậy thì sao lại đi tìm người Dao chứ, họ "Nam tiến" sâu lắm cũng mới ở trên mạn Bắc sông Đà cơ mà. Câu hỏi đó cứ mênh mang trong đầu tôi như bước chân "quá hải" của người Dao xưa vượt qua vịnh Bắc Bộ mà vào đất Hoành Bồ, hay khi họ vượt bến Thung Nai vào tới xứ Mường Động này.
Qua Tú Sơn, địa danh có cửu thác với khu du lịch nổi tiếng, xe chúng tôi giờ mới ngược lên Thung Rếch. Con đường nhỏ đã trải bê tông dẫn thẳng lên núi, anh tài xế phải liên tục bấm còi vì sợ gặp xe đi ngược khuất tầm nhìn. Ở đây sương mù đậm, những bông hoa xuyến chi, cây bông hôi nở dọc hai bên đường.
Dulichgo
Một bác đi cùng đoàn bảo, cách đây 40 năm bác đã từng qua đây, khi ấy làm gì có con đường này, bác phải trèo qua những mỏm đá để vào nơi này, núi rừng còn âm u hoang vắng lắm. Lúc này, tôi mới có cảm giác về một không gian núi đồi của những bản người Dao thật.
Xe lên tới hết con dốc là thấy trời quang. Thật lạ, mải miết bám cua lên cao thế, ai ngờ lại như vừa chui xuống một cái thung sâu mà ngước nhìn lên. Trên kia là sương khói phủ kín những đỉnh núi, dưới này là cái mướt mát của cây lá rì rào trong gió Xuân, cảm giác như lạc vào một thế giới khác. Ở đây chỉ thấy mía xanh ngắt một màu, nhưng thân mía vàng óng ả trong gió đọng từng giọt mật đất đồi. Chỉ ra giêng, mía sẽ được chở về các nhà máy.
Cũng lạ, dường như ở nơi cao vời này, ngày ngày mặt trời thức dậy muộn hơn, những tia nắng, sự ấm áp đến muộn hơn, trong khi phải đón hạt mưa, cơn gió lạnh trước đồng bằng, bởi thế mà thiên nhiên đã bù đắp cho Thung Rếch mùa Xuân đến sớm. Thảo nào khi ngoảnh lại, đã thấy cây đào thưa lá đầu ngõ của bà con người Dao đã trổ hoa.
Ở đây tuy cao nhưng không phải vùng đồi nên xung quanh những căn nhà gỗ là những đụn lõi ngô dùng làm chất đốt. Những căn nhà ở đây được làm từ những cây gỗ quý mà khi mới chuyển về đây bà con đã xẻ ra thưng ván chắn gió núi mưa rừng.
Dulichgo
Theo những gì tôi biết thì những xóm người Dao ở đây thuộc một nhánh của đồng bào Dao Tiền từ bờ bên kia sông Đà vượt qua bến Thung Nai rồi ngược lên đây.
Cuộc sống của bà con nơi đây đã có phần khá giả nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa riêng. Tình cờ, ngước lên tường nhà, xà nhà, tôi bắt gặp những nét vẽ mộc mạc của cách bài trí của thập niên 80 của thế kỷ trước. Vẫn là hình ảnh những cuốn thư đón Xuân với khẩu hiệu như "Tổ quốc phồn vinh, gia đình hạnh phúc", hình ảnh đôi bồ câu và những chiếc đèn lồng... tất cả gợi nhớ ký ức về một thời khi chưa dâng nước lòng hồ sông Đà.
< Đường lên cửa thác Tú Sơn.
Ở đây không có hang động, cảnh quan gì nổi bật nhưng chính vẻ đẹp hoang sơ có một sức hút. Dù chỉ thuộc một nhánh Dao Tiền nhưng bà con ở đây vẫn duy trì nghi thức Tết nhảy gợi lại hành trình vượt biển từ đảo Hải Nam, qua vịnh Bắc Bộ vào vùng biển Quảng Ninh ở thế kỷ thứ XIII.
Những trận bão tố, đói khát và sự kiên cường bất khuất của cha ông đã được mô phỏng lại một cách sinh động như một sự tái hiện vừa chân thực vừa mĩ lệ. Được biết, mỗi năm ở đây thường có một vài gia đình tiến hành nghi lễ này. Được chứng dự một cái Tết nhảy của đồng bào Dao sẽ là điều may mắn với mỗi du khách.
< Giã bánh dày chuẩn bị cho ngày Tết.
Men rượu ngô đã lâng lâng, bước ra sân vẫn thấy màn mưa bụi bay trong một chiều áp Tết, dường như vẫn còn nhiều câu chuyện hay ẩn giấu nơi Thung Rếch hoang sơ được ví như đặc khu mía đường đem đến vị ngọt cho cuộc đời.
Dulichgo
Hẳn là, khi bươc sang năm mới, trong những ngôi nhà gỗ sẽ vang lên tiếng cười vui chúc mừng may mắn, hạnh phúc. Trên những con đường, bên cạnh màu xanh ngút ngát của ngô, của mía là màu đỏ sắc đào tô thắm cho một vùng thung đậm sắc Xuân này.
Thung Rếch, hẹn ngày trở lại.
Theo Bùi Việt Phương (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Thung Rếch
Xe chúng tôi lao nhanh qua tỉnh lộ 12B trên đất mường cổ Kim Bôi. Qua dốc Cun là đã vào sâu đất Mường. Ở vùng Mường gốc này ngữ âm, phong tục đã khác xa các vùng Mường ngoài, vậy thì sao lại đi tìm người Dao chứ, họ "Nam tiến" sâu lắm cũng mới ở trên mạn Bắc sông Đà cơ mà. Câu hỏi đó cứ mênh mang trong đầu tôi như bước chân "quá hải" của người Dao xưa vượt qua vịnh Bắc Bộ mà vào đất Hoành Bồ, hay khi họ vượt bến Thung Nai vào tới xứ Mường Động này.
Qua Tú Sơn, địa danh có cửu thác với khu du lịch nổi tiếng, xe chúng tôi giờ mới ngược lên Thung Rếch. Con đường nhỏ đã trải bê tông dẫn thẳng lên núi, anh tài xế phải liên tục bấm còi vì sợ gặp xe đi ngược khuất tầm nhìn. Ở đây sương mù đậm, những bông hoa xuyến chi, cây bông hôi nở dọc hai bên đường.
Dulichgo
Một bác đi cùng đoàn bảo, cách đây 40 năm bác đã từng qua đây, khi ấy làm gì có con đường này, bác phải trèo qua những mỏm đá để vào nơi này, núi rừng còn âm u hoang vắng lắm. Lúc này, tôi mới có cảm giác về một không gian núi đồi của những bản người Dao thật.
Xe lên tới hết con dốc là thấy trời quang. Thật lạ, mải miết bám cua lên cao thế, ai ngờ lại như vừa chui xuống một cái thung sâu mà ngước nhìn lên. Trên kia là sương khói phủ kín những đỉnh núi, dưới này là cái mướt mát của cây lá rì rào trong gió Xuân, cảm giác như lạc vào một thế giới khác. Ở đây chỉ thấy mía xanh ngắt một màu, nhưng thân mía vàng óng ả trong gió đọng từng giọt mật đất đồi. Chỉ ra giêng, mía sẽ được chở về các nhà máy.
Cũng lạ, dường như ở nơi cao vời này, ngày ngày mặt trời thức dậy muộn hơn, những tia nắng, sự ấm áp đến muộn hơn, trong khi phải đón hạt mưa, cơn gió lạnh trước đồng bằng, bởi thế mà thiên nhiên đã bù đắp cho Thung Rếch mùa Xuân đến sớm. Thảo nào khi ngoảnh lại, đã thấy cây đào thưa lá đầu ngõ của bà con người Dao đã trổ hoa.
Ở đây tuy cao nhưng không phải vùng đồi nên xung quanh những căn nhà gỗ là những đụn lõi ngô dùng làm chất đốt. Những căn nhà ở đây được làm từ những cây gỗ quý mà khi mới chuyển về đây bà con đã xẻ ra thưng ván chắn gió núi mưa rừng.
Dulichgo
Theo những gì tôi biết thì những xóm người Dao ở đây thuộc một nhánh của đồng bào Dao Tiền từ bờ bên kia sông Đà vượt qua bến Thung Nai rồi ngược lên đây.
Cuộc sống của bà con nơi đây đã có phần khá giả nhưng vẫn giữ được những nét văn hóa riêng. Tình cờ, ngước lên tường nhà, xà nhà, tôi bắt gặp những nét vẽ mộc mạc của cách bài trí của thập niên 80 của thế kỷ trước. Vẫn là hình ảnh những cuốn thư đón Xuân với khẩu hiệu như "Tổ quốc phồn vinh, gia đình hạnh phúc", hình ảnh đôi bồ câu và những chiếc đèn lồng... tất cả gợi nhớ ký ức về một thời khi chưa dâng nước lòng hồ sông Đà.
< Đường lên cửa thác Tú Sơn.
Ở đây không có hang động, cảnh quan gì nổi bật nhưng chính vẻ đẹp hoang sơ có một sức hút. Dù chỉ thuộc một nhánh Dao Tiền nhưng bà con ở đây vẫn duy trì nghi thức Tết nhảy gợi lại hành trình vượt biển từ đảo Hải Nam, qua vịnh Bắc Bộ vào vùng biển Quảng Ninh ở thế kỷ thứ XIII.
Những trận bão tố, đói khát và sự kiên cường bất khuất của cha ông đã được mô phỏng lại một cách sinh động như một sự tái hiện vừa chân thực vừa mĩ lệ. Được biết, mỗi năm ở đây thường có một vài gia đình tiến hành nghi lễ này. Được chứng dự một cái Tết nhảy của đồng bào Dao sẽ là điều may mắn với mỗi du khách.
< Giã bánh dày chuẩn bị cho ngày Tết.
Men rượu ngô đã lâng lâng, bước ra sân vẫn thấy màn mưa bụi bay trong một chiều áp Tết, dường như vẫn còn nhiều câu chuyện hay ẩn giấu nơi Thung Rếch hoang sơ được ví như đặc khu mía đường đem đến vị ngọt cho cuộc đời.
Dulichgo
Hẳn là, khi bươc sang năm mới, trong những ngôi nhà gỗ sẽ vang lên tiếng cười vui chúc mừng may mắn, hạnh phúc. Trên những con đường, bên cạnh màu xanh ngút ngát của ngô, của mía là màu đỏ sắc đào tô thắm cho một vùng thung đậm sắc Xuân này.
Thung Rếch, hẹn ngày trở lại.
Theo Bùi Việt Phương (Doanh Nhân Sàigòn)
Du lịch, GO!
Thung Rếch
Nửa ngày du ngoạn Huế không vào kinh thành
Dù không vào các lăng tẩm, cung điện như những khách du lịch thường đến Huế, tôi vẫn cảm nhận được nét nên thơ và trầm mặc của vùng đất cố đô.
Đặt chân đến Huế trong hành trình đi dọc miền Trung, trong túi tôi chỉ còn khoảng 300.000 đồng. Với số tiền này tôi quyết định chỉ dạo chơi ở Huế khoảng nửa ngày và không tham quan những địa điểm có thu phí.
Huế vào tháng 10 thường mưa như trút nước cả ngày. Tuy nhiên, may mắn là buổi sáng hôm tôi đến, trời quang mây tạnh sau một đêm mưa dai dẳng, tiết trời có chút lành lạnh rất dễ chịu. Trong vô số di tích ở đất cố đô, tôi muốn được đến ngay chùa Thiên Mụ, một biểu tượng đã in đậm trong tâm trí tôi từ rất lâu qua sách vở.
Con đường đến chùa Thiên Mụ chạy dọc theo sông Hương đưa gió nhè nhẹ, nắng chiếu lấp lánh ánh bạc và thỉnh thoảng mới có chiếc thuyền trôi chậm trên mặt nước. Đến chùa vào khoảng 7h sáng, lúc này hầu như chưa có một đoàn khách du lịch nào nên không gian nơi đây thật sự tĩnh lặng. Tiếng chuông chùa thỉnh thoảng vang lên khiến tôi chìm đắm trong một bầu không khí thanh tịnh. Tôi dành một khoảng thời gian rất lâu ở vườn thông sau chùa để ngồi thư thả trước khi những đoàn khách du lịch bắt đầu đổ đến.
Dulichgo
Rời Thiên Mụ, tôi rẽ vào đường Phú Mộng cách đó không xa và tản bộ trên con đường được mệnh danh thơ mộng nhất xứ Huế. Con đường nhỏ xíu chỉ đủ hai xe máy chạy ngược chiều, được lát gạch tàu đỏ, hai bên là những ngôi nhà vườn thanh nhã đặc trưng ẩn hiện sau hàng rào chè xanh mướt mắt. Tôi đủng đỉnh đi dạo trong nắng sớm thi vị của con đường, ánh sáng nhè nhẹ len lỏi qua hàng cau hệt như những câu thơ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.
Hôm tôi ở Huế cũng vào đúng dịp rằm. Buổi trưa, hầu hết mọi người đều tìm đến những quán chay trong khu vực kinh thành, trong đó đường Hàn Thuyên có vẻ đông đúc nhất. Bước vào một quán chay bình dân có sân vườn mát mẻ, tôi gọi một tô bún khô. Tô bún nhỏ, cho thêm chút ớt ăn rất ngon miệng. Giá chỉ có 8.000 đồng nên ai cũng gọi ăn thêm.
Thời gian còn lại không nhiều, tuy nhiên tôi vẫn muốn đi về phía làng Thanh Tiên, một nơi khá nổi tiếng với những sản phẩm hoa giấy có từ hơn 300 năm, đặc biệt là hoa sen. Địa điểm này nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7 km và tôi phải đi bộ một lúc khá lâu mới xin được người cho đi quá giang có mũ bảo hiểm. Làng Thanh Tiên hiện không còn nhiều người làm hoa, đi loanh quanh chỉ còn vài nhà đang chuốt tre, dán giấy, không khí không rộn ràng như mong đợi. Tuy nhiên trải nghiệm thực tế được nhìn thấy những công đoạn để làm ra một sản phẩm thủ công truyền thống lúc nào cũng đầy thú vị.
Trên đường quay về trung tâm thành phố, tôi ghé qua chợ Đông Ba ăn ly chè thịt quay bọc bột lọc. Món này kiểu chè cung đình, ăn lạ miệng, nhưng không dễ được yêu thích bởi vị ngọt mặn lẫn lộn. Cô bán chè dễ thương thấy tôi ăn không được, ngỏ ý muốn mời một ly chè khác không tính tiền. Cô còn dạy tôi cách xưng hô với những người phụ nữ Huế bằng cách gọi “O” thay cho cô, dì, bác,…để tạo thân mật.
Dulichgo
Những ánh nắng chiều bắt đầu nhuộm vàng các bức tường thành bao quanh Đại Nội. Trước khi rời Huế, tôi nán thêm thời gian ngồi theo dõi một trận bóng đá của nhóm học sinh trên bãi cỏ rộng trước Kỳ Đài. Gió chiều hiu hiu, thỉnh thoảng vang lên tiếng cười giòn giã ăn mừng chiến thắng, tôi như bắt gặp lại những ký ức rất đẹp của riêng mình.
Một ngày ngắn ngủi không tham quan lăng tẩm, cung điện, nhưng tôi vẫn tìm thấy những nét đẹp nên thơ và trầm mặc ở vùng đất cố đô. Và hơn hết, Huế đã để lại trong tôi những cảm xúc của chuyến ghé thăm lần đầu rất đặc biệt.
Theo Đức Thành (Dulich.Vnexpress)
Du lịch, GO!
Đặt chân đến Huế trong hành trình đi dọc miền Trung, trong túi tôi chỉ còn khoảng 300.000 đồng. Với số tiền này tôi quyết định chỉ dạo chơi ở Huế khoảng nửa ngày và không tham quan những địa điểm có thu phí.
Huế vào tháng 10 thường mưa như trút nước cả ngày. Tuy nhiên, may mắn là buổi sáng hôm tôi đến, trời quang mây tạnh sau một đêm mưa dai dẳng, tiết trời có chút lành lạnh rất dễ chịu. Trong vô số di tích ở đất cố đô, tôi muốn được đến ngay chùa Thiên Mụ, một biểu tượng đã in đậm trong tâm trí tôi từ rất lâu qua sách vở.
Con đường đến chùa Thiên Mụ chạy dọc theo sông Hương đưa gió nhè nhẹ, nắng chiếu lấp lánh ánh bạc và thỉnh thoảng mới có chiếc thuyền trôi chậm trên mặt nước. Đến chùa vào khoảng 7h sáng, lúc này hầu như chưa có một đoàn khách du lịch nào nên không gian nơi đây thật sự tĩnh lặng. Tiếng chuông chùa thỉnh thoảng vang lên khiến tôi chìm đắm trong một bầu không khí thanh tịnh. Tôi dành một khoảng thời gian rất lâu ở vườn thông sau chùa để ngồi thư thả trước khi những đoàn khách du lịch bắt đầu đổ đến.
Dulichgo
Rời Thiên Mụ, tôi rẽ vào đường Phú Mộng cách đó không xa và tản bộ trên con đường được mệnh danh thơ mộng nhất xứ Huế. Con đường nhỏ xíu chỉ đủ hai xe máy chạy ngược chiều, được lát gạch tàu đỏ, hai bên là những ngôi nhà vườn thanh nhã đặc trưng ẩn hiện sau hàng rào chè xanh mướt mắt. Tôi đủng đỉnh đi dạo trong nắng sớm thi vị của con đường, ánh sáng nhè nhẹ len lỏi qua hàng cau hệt như những câu thơ trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử.
Hôm tôi ở Huế cũng vào đúng dịp rằm. Buổi trưa, hầu hết mọi người đều tìm đến những quán chay trong khu vực kinh thành, trong đó đường Hàn Thuyên có vẻ đông đúc nhất. Bước vào một quán chay bình dân có sân vườn mát mẻ, tôi gọi một tô bún khô. Tô bún nhỏ, cho thêm chút ớt ăn rất ngon miệng. Giá chỉ có 8.000 đồng nên ai cũng gọi ăn thêm.Thời gian còn lại không nhiều, tuy nhiên tôi vẫn muốn đi về phía làng Thanh Tiên, một nơi khá nổi tiếng với những sản phẩm hoa giấy có từ hơn 300 năm, đặc biệt là hoa sen. Địa điểm này nằm cách trung tâm thành phố khoảng 7 km và tôi phải đi bộ một lúc khá lâu mới xin được người cho đi quá giang có mũ bảo hiểm. Làng Thanh Tiên hiện không còn nhiều người làm hoa, đi loanh quanh chỉ còn vài nhà đang chuốt tre, dán giấy, không khí không rộn ràng như mong đợi. Tuy nhiên trải nghiệm thực tế được nhìn thấy những công đoạn để làm ra một sản phẩm thủ công truyền thống lúc nào cũng đầy thú vị.
Trên đường quay về trung tâm thành phố, tôi ghé qua chợ Đông Ba ăn ly chè thịt quay bọc bột lọc. Món này kiểu chè cung đình, ăn lạ miệng, nhưng không dễ được yêu thích bởi vị ngọt mặn lẫn lộn. Cô bán chè dễ thương thấy tôi ăn không được, ngỏ ý muốn mời một ly chè khác không tính tiền. Cô còn dạy tôi cách xưng hô với những người phụ nữ Huế bằng cách gọi “O” thay cho cô, dì, bác,…để tạo thân mật.Dulichgo
Những ánh nắng chiều bắt đầu nhuộm vàng các bức tường thành bao quanh Đại Nội. Trước khi rời Huế, tôi nán thêm thời gian ngồi theo dõi một trận bóng đá của nhóm học sinh trên bãi cỏ rộng trước Kỳ Đài. Gió chiều hiu hiu, thỉnh thoảng vang lên tiếng cười giòn giã ăn mừng chiến thắng, tôi như bắt gặp lại những ký ức rất đẹp của riêng mình.
Một ngày ngắn ngủi không tham quan lăng tẩm, cung điện, nhưng tôi vẫn tìm thấy những nét đẹp nên thơ và trầm mặc ở vùng đất cố đô. Và hơn hết, Huế đã để lại trong tôi những cảm xúc của chuyến ghé thăm lần đầu rất đặc biệt.
Theo Đức Thành (Dulich.Vnexpress)
Du lịch, GO!
Ăn vặt ở chợ Hàn
(iHay) - Nếu có dịp đến chợ Hàn ở Đà Nẵng, bạn đừng chỉ lo thăm thú, mua sắm, hãy ghé khu ẩm thực để lê la “ăn hàng”. Chỉ cần dạo quanh một vòng, thử vài món con con cũng đủ khiến bạn no nê hả hê.
Tôi đến chợ Hàn vào một buổi trưa mưa rả rích, bụng đói meo. Vừa vào chợ, không tận hưởng thú vui “shopping” như thường lệ, tôi tất tả chạy đi kiếm hàng ăn để lấp đầy cái bao tử đang sôi sùng sục.
May thay, mấy sạp bán đồ ăn vẫn bày ra la liệt, ngay lối đi, ở chỗ dễ tìm nhất, dù chợ trưa đang vắng khách mua.
Tôi sà ngay xuống một quầy “bán đủ thứ” của cô bán hàng chất phác sau khi được cô chào mời bằng một giọng Đà Nẵng đặc sệt: “Eng (ăn) bénh (bánh) cenh (canh) đi con!”. Cô bán đủ thứ món mà sao biết mình thích bánh canh để mời nhỉ?
Dulichgo
Cảm thấy như bị cô đi guốc trong bụng rồi nên tôi không thể chối từ. Với lại, tôi cũng muốn thử cho biết tô bánh canh ở chợ Hàn nó ra làm sao vì nghe anh bạn quê gốc Đà Nẵng khen dữ lắm. Tô bánh canh dọn ra, nhỏ xinh vừa vặn, bốc khói nghi ngút và đặc biệt là… đầy chả, tất nhiên không thiếu chả bò.
Những thanh chả con con gói trong lá chuối, đỏ au, thơm tho, được xắt mỏng cùng với chả cá chiên, cho vào tô bánh canh là đủ, chẳng cần thịt cá gì thêm. Mà đâu cần phải ăn bánh canh bạn mới có thể thử chả, chả ở đây được bán như một món vặt, chất đầy sề mẹt, tủ kính, bạn có thể thoải mái ăn không, nếu thích. Rau nêm thì có rau răm, hành lá, hành tây thơm nồng, sợi bánh canh thì trong trong dai dai, nhai vào rất đã.
Chị đi cùng tôi thì quyết định thử bún bò vì chị bảo, bún bò Đà Nẵng khác lắm. Đúng là khác thật, tô bún bò ngó rất mỡ màng, có chả quết, có cả tiết heo và thịt đầy ụ. Húp thử một miếng, tôi có thể cảm nhận rõ ràng chất ngọt, chất béo lừ của tô bún ở đây.
Ăn bánh canh xong, bụng vẫn còn cảm thấy lưng lưng, tôi gọi thêm một đĩa bánh ít trần, bánh ướt, bột lọc thập cẩm để “chén”.
Dulichgo
So với kiểu bánh Huế thì bánh của người Đà Nẵng có vẻ “thô” hơn nhưng không vì thế mà kém ngon. Đĩa bánh dọn ra, bên trên rắc hành phi, bánh mì chiên giòn, ruốc tôm đỏ au, kèm thêm vài thanh chả bò khách muốn lấy bao nhiêu tùy thích. Khi ăn, chấm từng miếng bánh nhỏ gọn vào chén nước mắm có ớt xanh xắt lát cay xè, thật ấm bụng.
Vừa ăn, tôi vừa liếc sang hàng cơm trưa, thấy nhiều bà chị bà cô vừa ăn vừa “tám” chuyện huyên thuyên vui đáo để. Đặc biệt là, ở đây, người ta ăn cơm bằng… tô chứ không “hoa mỹ” như kiểu ăn cơm dĩa ở nhiều nơi. Cơm xúc đầy một tô, đồ ăn thì xếp lên cho bằng hết rồi trộn đều. Có vẻ như, kiểu ăn này khiến người ta tự nhiên hơn, ngon miệng hơn. Nếu bụng còn đủ sức chứa, ắt tôi cũng gọi ngay một tô để thử.
Sau khi quẩn quanh ăn uống no nê, tôi lại đùm túm về thêm một mớ chả bò cây để dành ăn dọc đường. Thế là, lần tham quan chợ Hàn đầu tiên của tôi sặc toàn mùi ăn uống và nếu có ghé nữa, tôi vẫn cứ chọn… đi ăn mà thôi.
Theo Thiên An (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!
Tôi đến chợ Hàn vào một buổi trưa mưa rả rích, bụng đói meo. Vừa vào chợ, không tận hưởng thú vui “shopping” như thường lệ, tôi tất tả chạy đi kiếm hàng ăn để lấp đầy cái bao tử đang sôi sùng sục.
May thay, mấy sạp bán đồ ăn vẫn bày ra la liệt, ngay lối đi, ở chỗ dễ tìm nhất, dù chợ trưa đang vắng khách mua.
Tôi sà ngay xuống một quầy “bán đủ thứ” của cô bán hàng chất phác sau khi được cô chào mời bằng một giọng Đà Nẵng đặc sệt: “Eng (ăn) bénh (bánh) cenh (canh) đi con!”. Cô bán đủ thứ món mà sao biết mình thích bánh canh để mời nhỉ?
Dulichgo
Cảm thấy như bị cô đi guốc trong bụng rồi nên tôi không thể chối từ. Với lại, tôi cũng muốn thử cho biết tô bánh canh ở chợ Hàn nó ra làm sao vì nghe anh bạn quê gốc Đà Nẵng khen dữ lắm. Tô bánh canh dọn ra, nhỏ xinh vừa vặn, bốc khói nghi ngút và đặc biệt là… đầy chả, tất nhiên không thiếu chả bò.
Những thanh chả con con gói trong lá chuối, đỏ au, thơm tho, được xắt mỏng cùng với chả cá chiên, cho vào tô bánh canh là đủ, chẳng cần thịt cá gì thêm. Mà đâu cần phải ăn bánh canh bạn mới có thể thử chả, chả ở đây được bán như một món vặt, chất đầy sề mẹt, tủ kính, bạn có thể thoải mái ăn không, nếu thích. Rau nêm thì có rau răm, hành lá, hành tây thơm nồng, sợi bánh canh thì trong trong dai dai, nhai vào rất đã.
Chị đi cùng tôi thì quyết định thử bún bò vì chị bảo, bún bò Đà Nẵng khác lắm. Đúng là khác thật, tô bún bò ngó rất mỡ màng, có chả quết, có cả tiết heo và thịt đầy ụ. Húp thử một miếng, tôi có thể cảm nhận rõ ràng chất ngọt, chất béo lừ của tô bún ở đây.
Ăn bánh canh xong, bụng vẫn còn cảm thấy lưng lưng, tôi gọi thêm một đĩa bánh ít trần, bánh ướt, bột lọc thập cẩm để “chén”.
Dulichgo
So với kiểu bánh Huế thì bánh của người Đà Nẵng có vẻ “thô” hơn nhưng không vì thế mà kém ngon. Đĩa bánh dọn ra, bên trên rắc hành phi, bánh mì chiên giòn, ruốc tôm đỏ au, kèm thêm vài thanh chả bò khách muốn lấy bao nhiêu tùy thích. Khi ăn, chấm từng miếng bánh nhỏ gọn vào chén nước mắm có ớt xanh xắt lát cay xè, thật ấm bụng.
Vừa ăn, tôi vừa liếc sang hàng cơm trưa, thấy nhiều bà chị bà cô vừa ăn vừa “tám” chuyện huyên thuyên vui đáo để. Đặc biệt là, ở đây, người ta ăn cơm bằng… tô chứ không “hoa mỹ” như kiểu ăn cơm dĩa ở nhiều nơi. Cơm xúc đầy một tô, đồ ăn thì xếp lên cho bằng hết rồi trộn đều. Có vẻ như, kiểu ăn này khiến người ta tự nhiên hơn, ngon miệng hơn. Nếu bụng còn đủ sức chứa, ắt tôi cũng gọi ngay một tô để thử.
Sau khi quẩn quanh ăn uống no nê, tôi lại đùm túm về thêm một mớ chả bò cây để dành ăn dọc đường. Thế là, lần tham quan chợ Hàn đầu tiên của tôi sặc toàn mùi ăn uống và nếu có ghé nữa, tôi vẫn cứ chọn… đi ăn mà thôi.
Theo Thiên An (iHay.Thanhnien)
Du lịch, GO!
Trải nghiệm rừng ngập mặn Đồng Rui
(LĐO) - Lang thang trong rừng ngập mặn Đồng Rui rộng gần 2.800 ha, khi thì bằng thuyền mủng, khi lội bộ…, với biết bao điều thú vị dưới tán rừng đước, trang, sút, vẹt… thật là một trải nghiệm tuyệt vời. Đây là rừng ngập mặn thuộc diện đẹp nhất Quảng Ninh, với những loại cây cổ thụ hàng trăm tuổi.
< Xuống tàu, lên mủng khám phá rừng ngập mặn.
Rừng ngập mặn Đồng Rui, thuộc xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh nằm trên QL 18, cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 60 km. Rừng nằm ở vị trí giáp ranh giữa TP.Cẩm Phả, huyện Tiên Yên và huyện Ba Chẽ và ở cửa sông Ba Chẽ.
< Bắt đầu cuộc hành trình.
Rừng được phân bố phân tầng rõ rệt, với các loại cây ngập mặn, như sú, vẹt, đước, trang, mắm, ráng… Trong đó, rừng tự nhiên – khoảng 2.400 ha – có từ rất lâu đời, theo người dân, cây đước và vẹt trên cả trăm năm tuổi.
Dulichgo
Diện tích rừng trồng những năm gần đây cũng tăng mạnh, nhờ sự vào cuộc của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và chính quyền, nhân dân địa phương.
< Len lỏi trong rừng.
Bao đời nay, rừng là hệ thống phòng thủ bảo vệ người dân trước mọi sóng to, gió lớn từ biển cả; là nơi cung cấp nguồn thủy hải sản vô cùng phong phú, đa dạng cho người dân. Dưới tán lá rừng là vô số các loại hải sản, như tôm, cá, nhuyễn thể hai mảnh, sá sùng, bạch tuộc, bông thùa…
< Một chú cáy biển “đùa giỡn” trên thân cây.
Tranh thủ lúc thủy triều còn ở mức thấp, chúng tôi tăng bo vào rừng trên chiếc tàu gỗ nhỏ của ngư dân, qua dòng sông hai bên xanh ngắt rừng ngập mặn. Tàu đỗ ở các cửa lạch nhỏ, chúng tôi lên những chiếc thuyền mủng, luồn lách qua từng thân cây sút, vẹt, đước…
< Du khách thích thú mò cua, bắt ốc.
Cái nắng nóng, oi bức như tan biến khi chúng tôi lội bì bõm dưới tán lá rừng.
Dulichgo
Vô số điều lý thú dành cho du khách khám phá dưới tán lá rừng xanh ấy – từ những bộ rễ sần sùi của sú, vẹt, đước… đang tận dụng nước rút cạn để hô hấp trước khi thủy triều dâng cao, đến những chú cua, cáy đang đùa giỡn; hay những con vạng, ốc…đang nằm trơ mình trên bùn đất…
< Phong cảnh tuyệt vời.
Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bắt gặp người dân Đồng Rui đi mua cua, bắt ốc, cá, vạng, ngao, ngán…Các loại sản hải ở đây đều thuộc diện ngon nhất của Quảng Ninh, bởi tất cả đều sinh sôi, phát triển trong tự nhiên.
Đâu đó có những tiếng chim ríu rít trong tán lá rừng. Rừng ngập mặn Đồng Rui được giới khoa học đánh giá rất phong phú về đa dạng sinh học, với hàng trăm loài động, thực vật, trong đó gồm nhiều loại chim, cò, ong, kỳ đà, rái cá, cầy…Chiều về, từng đàn cò bay trắng xóa một góc rừng.
< Rừng ngập mặn xanh ngắt đôi bờ sông.
Dulichgo
Ra đến phía gần ngoài bìa rừng, những con sóng lăn tăn cùng những cơn gió thổi nhè nhẹ từ sông, từ biển vào cho du khách một cảm giác dễ chịu vô cùng. Sau một hồi cuốc bộ, có ai đó ước ao được ngả lưng trên chiếc võng dưới tán lá rừng.
Chẳng ai muốn lên thuyền trở về dù trời đã muộn. Rừng ngập mặn Đồng Rui – một điểm du lịch sinh thái, trải nghiệm đầy hấp dẫn, nhưng không phải ai cũng biết, kể cả người Quảng Ninh.
Theo Nguyễn Hùng (Lao Động)
Du lịch, GO!
< Xuống tàu, lên mủng khám phá rừng ngập mặn.
Rừng ngập mặn Đồng Rui, thuộc xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh nằm trên QL 18, cách trung tâm thành phố Hạ Long khoảng 60 km. Rừng nằm ở vị trí giáp ranh giữa TP.Cẩm Phả, huyện Tiên Yên và huyện Ba Chẽ và ở cửa sông Ba Chẽ.
< Bắt đầu cuộc hành trình.
Rừng được phân bố phân tầng rõ rệt, với các loại cây ngập mặn, như sú, vẹt, đước, trang, mắm, ráng… Trong đó, rừng tự nhiên – khoảng 2.400 ha – có từ rất lâu đời, theo người dân, cây đước và vẹt trên cả trăm năm tuổi.
Dulichgo
Diện tích rừng trồng những năm gần đây cũng tăng mạnh, nhờ sự vào cuộc của các tổ chức phi chính phủ quốc tế và chính quyền, nhân dân địa phương.
< Len lỏi trong rừng.
Bao đời nay, rừng là hệ thống phòng thủ bảo vệ người dân trước mọi sóng to, gió lớn từ biển cả; là nơi cung cấp nguồn thủy hải sản vô cùng phong phú, đa dạng cho người dân. Dưới tán lá rừng là vô số các loại hải sản, như tôm, cá, nhuyễn thể hai mảnh, sá sùng, bạch tuộc, bông thùa…
< Một chú cáy biển “đùa giỡn” trên thân cây.
Tranh thủ lúc thủy triều còn ở mức thấp, chúng tôi tăng bo vào rừng trên chiếc tàu gỗ nhỏ của ngư dân, qua dòng sông hai bên xanh ngắt rừng ngập mặn. Tàu đỗ ở các cửa lạch nhỏ, chúng tôi lên những chiếc thuyền mủng, luồn lách qua từng thân cây sút, vẹt, đước…
< Du khách thích thú mò cua, bắt ốc.
Cái nắng nóng, oi bức như tan biến khi chúng tôi lội bì bõm dưới tán lá rừng.
Dulichgo
Vô số điều lý thú dành cho du khách khám phá dưới tán lá rừng xanh ấy – từ những bộ rễ sần sùi của sú, vẹt, đước… đang tận dụng nước rút cạn để hô hấp trước khi thủy triều dâng cao, đến những chú cua, cáy đang đùa giỡn; hay những con vạng, ốc…đang nằm trơ mình trên bùn đất…
< Phong cảnh tuyệt vời.
Thỉnh thoảng, chúng tôi lại bắt gặp người dân Đồng Rui đi mua cua, bắt ốc, cá, vạng, ngao, ngán…Các loại sản hải ở đây đều thuộc diện ngon nhất của Quảng Ninh, bởi tất cả đều sinh sôi, phát triển trong tự nhiên.
Đâu đó có những tiếng chim ríu rít trong tán lá rừng. Rừng ngập mặn Đồng Rui được giới khoa học đánh giá rất phong phú về đa dạng sinh học, với hàng trăm loài động, thực vật, trong đó gồm nhiều loại chim, cò, ong, kỳ đà, rái cá, cầy…Chiều về, từng đàn cò bay trắng xóa một góc rừng.
< Rừng ngập mặn xanh ngắt đôi bờ sông.
Dulichgo
Ra đến phía gần ngoài bìa rừng, những con sóng lăn tăn cùng những cơn gió thổi nhè nhẹ từ sông, từ biển vào cho du khách một cảm giác dễ chịu vô cùng. Sau một hồi cuốc bộ, có ai đó ước ao được ngả lưng trên chiếc võng dưới tán lá rừng.
Chẳng ai muốn lên thuyền trở về dù trời đã muộn. Rừng ngập mặn Đồng Rui – một điểm du lịch sinh thái, trải nghiệm đầy hấp dẫn, nhưng không phải ai cũng biết, kể cả người Quảng Ninh.
Theo Nguyễn Hùng (Lao Động)
Du lịch, GO!
Về núi Nổi một chuyến
Núi Nổi nằm ở xã Tân Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, cách thị xã Tân Châu khoảng 9km. Núi có chu vi khoảng 320m, nằm giữa cánh đồng rộng mênh mông, vào mùa nước lũ, ngọn núi như bồng bềnh trên mặt nước.
Ngược dòng lên sông Tiền đến xứ lụa Tân Châu (An Giang), mấy người bạn rủ tôi lên núi Nổi một chuyến. Thoạt nghe, chúng tôi ngờ ngợ, bởi vì ở miệt An Giang này, chỉ có núi ở vùng Thất Sơn, chứ nơi đầu nguồn con sông Tiền làm gì có một ngọn núi nào nữa?
Từ thị xã Tân Châu đi theo hướng Vĩnh Xương, đến cầu An Lôi Thôi thì rẽ trái chừng khoảng 10 cây số đến ngọn núi này. Dọc hai bên đường là những ngôi nhà cao cẳng kiểu “sống chung với lũ”.
Thời gian gần đây, đê bao đã khép kín. Lũ không còn chụp vào những ngôi nhà nữa, nhưng người dân địa phương vẫn chuộng loại nhà này. Dù cất mới hay sửa chữa, họ vẫn giữ lại kiến trúc cũ. Đó là những ngôi nhà gỗ cất trên những cây trụ khoảng 8 tấc đến 2 mét. Nhà kiểu ba gian, hai chái, mái lợp ngói đỏ, sàn và vách gỗ. Kiểu nhà sàn này rất mát mẻ. Bên trên là chỗ ở. Phần dưới sàn dùng làm nơi chứa nông cụ, vật tư nông nghiệp...
Suốt đoạn đường đến núi Nổi, nhà cửa nằm sát nhau như phố. Đang mùa gặt hái, ai nấy tất bật với việc đồng áng. Thời điểm này khá thuận tiện để khách trải nghiệm cuộc sống, thưởng thức và tìm hiểu việc nhà nông. Địa phương này dù rất phát triển về cơ giới hóa nông nghiệp nhưng nhiều nông dân vẫn sử dụng sức trâu để cày bừa và vận chuyển lúa từ đồng về nhà. Trên đường đi, thỉnh thoảng du khách bắt gặp những chiếc xe trâu kéo nặng nề, trên xe chất đầy những bao lúa. Đường dẫn vào núi Nổi là một con đường mới đắp rộng khoảng 5m, cao hơn mặt ruộng. Hết con đường này là núi.
Dulichgo
Núi Nổi là một trong các ngọn núi thấp nhất và nhỏ nhất trong số núi ở An Giang. Nói là núi nhưng độ cao của nó chỉ khoảng 10m bao gồm đất và đá chất chồng lên nhau. Tương truyền, khoảng 2.500 năm trước, nơi đây từng tiếp đón các tàu buôn tơ lụa, gốm sứ đến mua bán như ở vùng Ba Thê-Núi Sập.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nơi này rất hoang vu. Bộ đội lẫn vào đây thì mất hút, địch chẳng lần ra dấu. Tên địch nào lọt vào đây thì đừng hòng quay trở ra. Vì thế người ta ví khu vực núi Nổi như ngọn đồi Tức Dụp thứ hai của An Giang. Phần lớn cánh đồng trồng lúa ngày nay xưa là một rừng tre rộng lớn. Bộ đội đóng quân trong khu vực này để đánh giặc.
Sau năm 1975, rừng tre được san phẳng lấy đất trồng lúa. Địa phương chỉ giữ lại nguyên trạng núi Nổi. Giữa đồng trống mênh mông, ngọn núi như một nét điểm xuyết bởi rừng cây rậm rạp với những cây cổ thụ tỏa bóng mát. Theo những bậc thang, khách lên đỉnh núi. Tại đây có một ngôi chùa cổ xưa mang tên Phù Sơn Tự. Ngôi chùa được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh. Ngôi chùa đơn giản nhưng cổ kính.
Dulichgo
Trong tâm linh người dân địa phương, núi Nổi là chốn linh thiêng để gởi gắm đức tin. Đối với khách ưa khám phá, đây là điểm đến thú vị. Vì sao giữa đồng ruộng lại có một gò đá cao như thế? Lý giải điều này, người dân địa phương cho rằng: núi Nổi là một dạng núi sót nằm cách xa quần thể Thất Sơn và các cụm núi Campuchia. Do đó, núi Nổi vẫn được gọi là núi chứ không gọi là gò.
Người trong chùa rất thân thiện và hiếu khách. Khách có thể ngồi trò chuyện nhiều giờ liền. Khi con nước ở thượng nguồn sông Mê Kông đổ về cũng là lúc việc đồng áng đã xong, nước ngập trắng đồng, núi Nổi nhô lên như một cù lao nhỏ trên biển nước mênh mông ấy, hoặc như một đóa sen lớn trên đồng nước đỏ hồng màu phù sa. Trên núi có những cây sao, cây dầu, cây còng hàng chục, trăm năm tuổi đứng vững chải, che kín ngọn núi. Nơi đây lý tưởng cho các hoạt động du lịch khám phá, về nguồn vừa thư giãn vừa tìm hiểu được nhiều kiến thức bổ ích. Kết hợp chuyến đi này, du khách có thể dừng chân lại làng dệt Tân Châu xem nghệ nhân nhuộm mặc nưa tạo màu đen bóng láng tạo sản phẩm dệt nổi tiếng lãnh Mỹ A một thời vàng son.
Hàng năm, vào khoảng tháng 9 âm lịch, lễ hội núi Nổi diễn ra tạo không khí vui chơi cho người dân địa phương sau khi kết thúc việc đồng áng. Đó là một sản phẩm du lịch độc đáo cho du khách đến từ phương xa.
Theo Vĩnh Bảo (Cần Thơ Online)
Du lịch, GO!
Về núi Nổi An Giang
Ngược dòng lên sông Tiền đến xứ lụa Tân Châu (An Giang), mấy người bạn rủ tôi lên núi Nổi một chuyến. Thoạt nghe, chúng tôi ngờ ngợ, bởi vì ở miệt An Giang này, chỉ có núi ở vùng Thất Sơn, chứ nơi đầu nguồn con sông Tiền làm gì có một ngọn núi nào nữa?
Từ thị xã Tân Châu đi theo hướng Vĩnh Xương, đến cầu An Lôi Thôi thì rẽ trái chừng khoảng 10 cây số đến ngọn núi này. Dọc hai bên đường là những ngôi nhà cao cẳng kiểu “sống chung với lũ”.
Thời gian gần đây, đê bao đã khép kín. Lũ không còn chụp vào những ngôi nhà nữa, nhưng người dân địa phương vẫn chuộng loại nhà này. Dù cất mới hay sửa chữa, họ vẫn giữ lại kiến trúc cũ. Đó là những ngôi nhà gỗ cất trên những cây trụ khoảng 8 tấc đến 2 mét. Nhà kiểu ba gian, hai chái, mái lợp ngói đỏ, sàn và vách gỗ. Kiểu nhà sàn này rất mát mẻ. Bên trên là chỗ ở. Phần dưới sàn dùng làm nơi chứa nông cụ, vật tư nông nghiệp...
Suốt đoạn đường đến núi Nổi, nhà cửa nằm sát nhau như phố. Đang mùa gặt hái, ai nấy tất bật với việc đồng áng. Thời điểm này khá thuận tiện để khách trải nghiệm cuộc sống, thưởng thức và tìm hiểu việc nhà nông. Địa phương này dù rất phát triển về cơ giới hóa nông nghiệp nhưng nhiều nông dân vẫn sử dụng sức trâu để cày bừa và vận chuyển lúa từ đồng về nhà. Trên đường đi, thỉnh thoảng du khách bắt gặp những chiếc xe trâu kéo nặng nề, trên xe chất đầy những bao lúa. Đường dẫn vào núi Nổi là một con đường mới đắp rộng khoảng 5m, cao hơn mặt ruộng. Hết con đường này là núi.
Dulichgo
Núi Nổi là một trong các ngọn núi thấp nhất và nhỏ nhất trong số núi ở An Giang. Nói là núi nhưng độ cao của nó chỉ khoảng 10m bao gồm đất và đá chất chồng lên nhau. Tương truyền, khoảng 2.500 năm trước, nơi đây từng tiếp đón các tàu buôn tơ lụa, gốm sứ đến mua bán như ở vùng Ba Thê-Núi Sập.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, nơi này rất hoang vu. Bộ đội lẫn vào đây thì mất hút, địch chẳng lần ra dấu. Tên địch nào lọt vào đây thì đừng hòng quay trở ra. Vì thế người ta ví khu vực núi Nổi như ngọn đồi Tức Dụp thứ hai của An Giang. Phần lớn cánh đồng trồng lúa ngày nay xưa là một rừng tre rộng lớn. Bộ đội đóng quân trong khu vực này để đánh giặc.Sau năm 1975, rừng tre được san phẳng lấy đất trồng lúa. Địa phương chỉ giữ lại nguyên trạng núi Nổi. Giữa đồng trống mênh mông, ngọn núi như một nét điểm xuyết bởi rừng cây rậm rạp với những cây cổ thụ tỏa bóng mát. Theo những bậc thang, khách lên đỉnh núi. Tại đây có một ngôi chùa cổ xưa mang tên Phù Sơn Tự. Ngôi chùa được công nhận là Di tích lịch sử cách mạng cấp tỉnh. Ngôi chùa đơn giản nhưng cổ kính.
Dulichgo
Trong tâm linh người dân địa phương, núi Nổi là chốn linh thiêng để gởi gắm đức tin. Đối với khách ưa khám phá, đây là điểm đến thú vị. Vì sao giữa đồng ruộng lại có một gò đá cao như thế? Lý giải điều này, người dân địa phương cho rằng: núi Nổi là một dạng núi sót nằm cách xa quần thể Thất Sơn và các cụm núi Campuchia. Do đó, núi Nổi vẫn được gọi là núi chứ không gọi là gò.
Người trong chùa rất thân thiện và hiếu khách. Khách có thể ngồi trò chuyện nhiều giờ liền. Khi con nước ở thượng nguồn sông Mê Kông đổ về cũng là lúc việc đồng áng đã xong, nước ngập trắng đồng, núi Nổi nhô lên như một cù lao nhỏ trên biển nước mênh mông ấy, hoặc như một đóa sen lớn trên đồng nước đỏ hồng màu phù sa. Trên núi có những cây sao, cây dầu, cây còng hàng chục, trăm năm tuổi đứng vững chải, che kín ngọn núi. Nơi đây lý tưởng cho các hoạt động du lịch khám phá, về nguồn vừa thư giãn vừa tìm hiểu được nhiều kiến thức bổ ích. Kết hợp chuyến đi này, du khách có thể dừng chân lại làng dệt Tân Châu xem nghệ nhân nhuộm mặc nưa tạo màu đen bóng láng tạo sản phẩm dệt nổi tiếng lãnh Mỹ A một thời vàng son.
Hàng năm, vào khoảng tháng 9 âm lịch, lễ hội núi Nổi diễn ra tạo không khí vui chơi cho người dân địa phương sau khi kết thúc việc đồng áng. Đó là một sản phẩm du lịch độc đáo cho du khách đến từ phương xa.
Theo Vĩnh Bảo (Cần Thơ Online)
Du lịch, GO!
Về núi Nổi An Giang
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






















































