Cuộc đời là những chuyến đi

RSS

About

Điện cúp thì... đi! (P3)

(Tiếp theo) - Sàigòn rộng lớn, phát triển mạnh cả về kinh tế và du lịch. Sản phẩm du lịch thì thành phố mình không thiếu do nơi đây có nhiều Di tích Lịch sử, công viên văn hóa... Tuy nhiên, thắng cảnh núi non chỉ là con số 0 - muốn ngắm nhìn thành phố trên cao chỉ có nước lên những nhà chọc trời, thứ mà thành phố 'hiện đại' nhất nước này có nhiều.

Bọn mình thích ngắm cảnh vật từ trên cao nhưng không xa nhà, vậy nên chỉ có thể đến những địa phương lân cận. Những đỉnh cao còn lại ven TP HCM có lẽ nay chỉ còn núi Bửu Long và núi Châu Thới - ngọn núi thấp mà ngày nay chỉ còn sót lại một đỉnh duy nhất do trên đó có chùa cổ và là thắng cảnh Di tích Lịch sử - Văn hóa QG. Miệt đồng bằng phía Nam núi non không nhiều, chả bù với miền Trung hay miền Bắc đâu, nhiều đến mức không kể xiết được.

< Nhìn về hướng mỏ đá Tân Đông Hiệp. Ngày xưa đây cũng là một ngọn núi thấp, nay đã 'phẳng' rồi.

Trở lại với chủ đề chùa Châu Thới, mình xin trích lại một phần lịch sử hình thành chốn ni:

< Chiếc hồ khá thơ mộng bên dưới cũng từ khai thác đá ngày xưa tạo thành. Ngày nay, quanh núi Châu Thới được 'khuyến mãi' thêm nhiều hồ khác!

Sách cổ “Gia Định Thành Thông Chí" đã viết: “Núi Chiêu Thới (Châu Thới) từng núi cao xanh, cây cối lâu đời rậm tốt, làm tấm bình phong triều về Trấn thành.

< Quanh triền núi là cây cỏ xanh um.

Ở hang núi có hang hố và khe nước, dân núi ở quanh theo, trên có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành, ngó xuống đại giang, du khách leo lên thưởng ngoạn có cảm tưởng tiêu dao ra ngoài cửa tục” (có sách cho là do thiền sư Thành Nhạc – Ẩn Sơn khai sơn và viên tịch tại nơi này vào ngày 17/12/1776).

< Nếu chú ý nhìn kỹ, ta có thể thấy những tòa cao ốc chọc trời tại TP HCM, ví dụ như tòa tháp Bitexco...

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” cũng miêu tả khá rõ núi và chùa Châu Thới gần giống như trên: “Núi Chiêu Thới tục gọi là núi Châu Thới, ở phía Nam huyện Phước Chính 21 dặm, từng núi cao tít làm bình phong cho tỉnh thành.

< Hồ nước tĩnh lặng dưới chân núi, có cũng do khai thác đá. Do hồ đã khá thâm niên nên cây cỏ phủ xanh um, đẹp nếu không có những đống đá bên cạnh.

Ngày xưa, khoảng giữa núi Chiêu Thới có am Vân Tĩnh là nơi ni cô Lượng tĩnh tu, nay vẫn còn di chỉ. Đột khởi là một gò cao bằng phẳng rộng rãi, ở bên có hang hố và nước khe chảy quanh, nhà của nhân dân ở quanh theo. Trên đỉnh có chùa Hội Sơn là chỗ thiền sư Khánh Long trác tích tu hành. Năm Bính Thân, đạo Hoà Nghĩa là Lý Tài chiếm cứ Châu Thới tức là chỗ này. Năm Tự Đức thứ 3 (1850) đem núi này liệt vào tự điển”.

< Nhiều tượng rồng vàng bay vây quanh khuôn viên chùa.

Cổng chùa bằng đá dưới chân núi có đề tên Chùa bằng chữ Hán “Châu Thới Sơn Tự”.

Du khách bước lên 220 bậc thềm sẽ đến cổng tam quan có ba mái cong và bánh xe pháp luân nằm ở giữa đỉnh, hai bên cửa có mấy chữ “Từ bi – hỉ xả…”.
< Một trong 2 tượng Phật Bà Quan Âm trong khuôn viên.

Giữa giảng Phật đường có tấm biển đề 4 chữ “Châu Thới Sơn Tự”, trên biển có ghi thêm dòng chữ “Tân Dậu niên, chánh ngoạt sơ kiết nhật” (ngày tốt đầu tháng giêng năm Tân Dậu), bên dưới ghi rõ hàng số 1612 (có thể hiểu Chùa được xây năm 1612).

< Vừa là cổng qua một khuôn viên khác, cũng chính là thân rồng.

Về nguồn gốc ngôi chùa, sách “Sơ khảo Phật giáo Bình Dương” viết: “Ngôi chùa đầu tiên ở vùng đất Bình Dương ngày nay được xây vào khoảng năm 1612, do thiền sư Khánh Long, trên bước đường vân du hoằng pháp lên đồi Châu Thới thấy cảnh hữu tình, Sư cất một thảo am nhỏ để tu tịnh, thảo am được gọi là chùa Hội Sơn, sau đổi tên thành chùa núi Châu Thới”.

< Phẹc, hồ nước đẹp chộp hoài hổng chán...

Nhưng sau mấy trang, tác giả cuốn sách này lại tỏ ra hồ nghi và cho rằng năm thành lập Chùa (1612) như nói trên là không hợp lý. Trước hết, 1612 không phải là năm Tân Dậu mà là năm Nhâm Tý; hơn nữa, đó là thời điểm quá sớm so với việc định cư số đông của người Việt tại vùng đất mới này. Rồi tác giả đưa ra nhận định: “Chùa lập vào năm 1681 và sau này ngài Thành Nhạc trùng tu và hành đạo nơi đây thì hợp lý hơn”.

< Có chán thì chán cái xưởng này ở mé chính Đông: CTy Cổ phần Bê Tông 620. Một trong những thủ phạm đang 'măm' dần quả núi.

Theo nhiều bài viết về chùa cổ ở Nam Bộ đều cho biết, những ngôi chùa xưa nhất ở Nam Bộ đã được xây dựng vào nửa sau thế kỷ XVII. Chẳng hạn sách “Những ngôi chùa cổ Nam Bộ” đã viết: “Ba ngôi chùa cổ là Bửu Long, Long Điền và Đại Giác tiêu biểu cho những điểm trụ tích đầu tiên của sơ Tổ Phật giáo Nam Bộ. Chùa Bửu Long nguyên chỉ là am nhỏ được thành lập nên từ giữa thế kỷ XVII. Chùa Long Điền (Tổ đình Sơn môn Nam Việt) lập 1664. Chùa Đại Giác được lập vào cuối thế kỷ XVII”.

< Bạn thấy cái anh chàng áo xanh trong ảnh không? Cậu chàng này lang thang trong khuôn viên, cũng vờ chăm chú như cầu nguyện trước Phật. Vậy nhưng thấy phụ nữ là xẹt đến... xin tiền - đổ lỗi do 'mất ví' nên không có phí đổ xăng... dìa. Không cho thì lại lòng vòng 'niệm Phật' và tìm người khác xin  tiếp! Chán cái anh này: to con, bô giai... nhưng lại thiếu kỹ năng 'làm ăn' chân chính.

< Ở góc Đông Bắc nhìn xuống thấy nhà bia Liệt sĩ hình bát giác bên dưới, ngay đoạn nghỉ của đường lên.

Theo các cứ liệu dẫn trên, năm Tân Dậu ghi trên biển chùa núi Châu Thới lập vào năm 1681 là thời điểm hợp lý hơn cả. Nhưng cho dù được thành lập vào năm 1681, chùa núi Châu Thới ở huyện Dĩ An hiện nay vẫn là ngôi chùa xưa nhất Bình Dương và được hình thành sớm vào hàng đầu ở Nam Bộ.

< Trên chùa núi Châu Thới có khá nhiều khỉ. Khỉ ở ơi này có lẽ do ở chốn tu hành nên hiền từ (ta có thể mua đậu cho ăn), không 'đầu gấu' như tại đảo Khỉ (Nha Trang).

Trong thời Pháp thuộc, nhờ vào địa thế hiểm trở và cảnh u tịch thanh vắng của ngôi chùa núi, nhiều người yêu nước thường đến đây ẩn náu, tụ hợp để hoạt động chống Pháp: Vào năm 1916, các hội viên của “Thiên Địa Hội” thuộc vùng Dĩ An – Lái Thiêu đã đến chùa Châu Thới tập võ nghệ mưu tính việc chống lại bọn cai trị người Pháp...

< Lang thang lòng vòng rồi trở ra. Kéo tay áo, nhìn giờ thì mới hay đồng hồ đeo tay đã bỏ quên trong phòng tắm ở nhà, ĐTDĐ cũng chả mang theo, giờ máy ảnh cũng không chuẩn do tháo pin mấy tháng rồi.
Thôi thì, giờ này hơn hổi nãy... một giờ, đoán mò khoảng 4h chiều.

< Ngắm nghía con đường lên xuống núi tuyệt đẹp rồi nhận thấy có một gia đình chim sẻ đang rỉa lông, xin tấm ảnh nghe các bác!

< Dốc gần... quá hớp! Lúc lên đoạn này, mình giảm tốc do ngại có xe chiều nghịch, vậy nên phải trả về số 1 để bò lên.

Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, chùa núi Châu Thới không còn lưu giữ được đầy đủ những long vị và Tháp của các vị thiền sư khai sơn mà chỉ thờ các tổ bằng tượng gỗ chạm và một số long vị của các hoà thượng đời sau này. Kiến trúc hiện nay được xây dựng năm 1954, tam quan xây dựng năm 1970. Ngôi chánh điện được Hòa thượng Viện chủ Thích Huệ Thông và Thượng tọa trụ trì Thích Minh Thiện tổ chức đại trùng tu từ năm 1992 đến năm 1995.

< Nhánh rễ bám theo vách núi trông thật độc đáo. Trên những nhánh này, người ta thắt rất nhiều nút bằng ống hút xanh đỏ - Có lẽ là một cách cầu may hay xin hạnh phúc gì đó.

< Lên dốc giảm tốc là đúng, nếu không có thể 'i love you' cái gốc cây giữa đường ni là trực chỉ phòng cấp cứu ngay!

Tuy nhiên, chùa vẫn còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ và tượng qúi như bộ tượng Di-đà Tam Tôn và tượng Phật Thích-ca bằng đồng, cao 3m, bộ tượng Thập bát La-hán, Thập Điện Minh Vương bằng đất nung, tượng Bồ-tát Quán Thế Âm bằng gỗ mít và một số tượng Phật, tượng Bà Chúa Xứ bằng đá xanh. Chùa là một danh lam thắng cảnh của Bình Dương, hằng năm đón tiếp hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

< Ngắm cho thỏa xong thì xuống núi. Bọn mình bàn nhau thía này: anh đi xe, chạy xuống đường cũ - còn em đeo máy ảnh xuống theo đường bậc thang. Vậy là ta có kiến thức và ảnh 'đủ đường'.
Dzị nên mình trở xuống đường này. Ghé lầu Bát giác có cảnh rất đẹp nhưng thiếu... máy chộp - Tiếc rẻ, dòm ngó thêm tí và goodbye.

Hẹn bài sau mình đưa ảnh lối bộ hành cùng một số thông tin về tên gọi địa danh 'Núi Châu Thới' nhé.

Còn tiếp
Phần 1 - Phần 2 - Phần 3 - Phần 4

Điền Gia Dũng
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Độc đáo miệt vườn Cồn Phụng

(ANTĐ) - Cách thành TP.HCM chỉ chừng 70km, Cồn Phụng còn có tên gọi khác là Cồn Tân Vinh. Đây là một cù lao nổi giữa sông Tiền, thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Cồn Phụng nằm cạnh tuyến phà Rạch Miễu của Quốc lộ 60 từ Mỹ Tho sang Bến Tre.

Thuở ban đầu, cồn chỉ là một cù lao nổi giữa sông Tiền vào những năm 1930 với diện tích khoảng 28 ha, nhưng do lượng phù sa bồi đắp dồi dào mỗi năm mà nay đã lên tới trên 50 ha. Đây là một trong bốn cồn nằm trên đoạn sông Mỹ Tho được đặt theo quan niệm tứ linh mang điềm an lành hạnh phúc là: long, lân, quy, phụng. Cồn Rồng là “long”, cồn Thới Sơn là “lân”, cồn Quy (nằm phía sông Ba Lai) là “quy”, và Cồn Phụng (còn gọi là cù lao Đạo Dừa) là “phụng”.

Tên Cồn Phụng có từ khi ông Nguyễn Thành Nam đến đây xây dựng chùa Nam Quốc Phật vào hồi đầu thế kỉ XX. Khi công trình này đang xây dựng, những người thợ nhặt được một cái chén cổ có hình con chim Phụng, nên đặt tên là Cồn Phụng. Ngoài ra, sở dĩ nó còn có tên gọi khác là cù lao Đạo Dừa là do ông Nguyễn Thành Nam khi đến đây xây chùa Nam Quốc Phật, đã thành lập nên một giáo phái gọi là Đạo Dừa. Đạo Dừa chủ trương mang lại hoà bình, sống bằng hoa trái.

Cồn Phụng hấp dẫn du khách bởi sự độc đáo của những khu nhà vườn xứ dừa, nơi có một không gian xanh đặc trưng của vùng sông nước miền Tây và những vườn cây ăn trái cho quả ngọt quanh năm, những sản phẩm từ cây trái độc đáo mà cõ lẽ chỉ những ngôi nhà vườn ở nơi cồn bãi này mới có.

Đứng trên cầu Rạch Miễu đã thấy những bậc cầu thang dẫn xuống cồn, đây là con đường dành cho dân địa phương mỗi khi có nhu cầu đi lại giữa Cồn Phụng và cù lao Thới Sơn.

Từ trên cầu nhìn về hai phía, một màu xanh mát mắt trải dài theo dòng Tiền Giang, chia sông Tiền thành hai nhánh để rồi chập vào làm một ở phía hạ nguồn cách đó không xa, bởi Cồn  Phụng chỉ là một cù lao nổi có diện tích khoảng 50ha với dân cư thưa thớt.

Có lẽ cũng bởi Cồn Phụng nhỏ và thưa dân như vậy, lại nằm biệt lập giữa dòng Tiền Giang nên hầu như không bị ảnh hưởng của đô thị hóa ở vùng đồng bằng Tây Nam bộ xâm lấn và tàn phá.

Ở Cồn Phụng, nhà nào cũng là nhà vườn, nhà được bao quanh, che phủ bởi màu xanh của cây trái, của dừa. Cuộc sống người dân Cồn Phụng cũng gắn liền với màu xanh của các khu nhà vườn nối tiếp nhau.

Nhìn từ trên cao, Cồn Phụng như con cá lớn nằm giữa dòng sông Tiền, con đường chính chạy dài từ đầu đến cuối cồn như cột xương sống nổi lên trên mình cá mà có nhiều đoạn, bóng dừa xanh giống như những chiếc vây che lấp cả con đường. Đặc biệt, ở Cồn Phụng còn có những xưởng làm kẹo dừa nổi tiếng, nơi du khách có thể trải nghiệm các công đoạn làm kẹo, cùng làm kẹo với người dân và thưởng thức ngay tại chỗ hương vị thơm ngon, độc đáo của đặc sản này.

Một ngày đến với xứ dừa, đến với nhà vườn Cồn Phụng. Sau những hành trình lênh đênh trên thuyền dưới bóng dừa xanh, lạc hồn vào những con đường kênh rạch không dấu vết. Du khách đừng quên thưởng thức những loại trái cây tự hái tại vườn, thưởng thức ly trà mật ong và những sản phẩm độc đáo của vùng sông nước Bến Tre, dùng bữa cơm dân dã dưới bóng dừa xanh với món cá tai tượng và ly rượu dừa thơm hòa vào lời ca tài tử. Một ngày ở xứ dừa, ở nhà vườn tuy giản đơn nhưng sẽ không thể nào quên.

Theo Vũ Thanh (An Ninh Thủ Đô)
Du lịch, GO!

Mùa hè tới Cồn Phụng ăn trái cây miễn phí
Khám phá “tứ linh” du lịch đồng bằng sông Cửu Long

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đình Diên Toàn - Diên Khánh

Diên Toàn là một ngôi đình cổ ở thôn Phước Thạnh, xã Diên Toàn (tỉnh Khánh Hòa) - nơi đang lưu giữ 8 đạo sắc phong do các vua triều Nguyễn ban tặng. Đây cũng là ngôi đình vừa được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh.

< Cổng đình Diên Toàn.

Theo ông Huỳnh Thanh, người được nhân dân trong xã giao trọng trách ngày đêm trông coi, gìn giữ, bảo quản các di sản của đình cho biết: “Theo các văn tự ghi chép lại từ xưa đến nay cho thấy, ngôi đình của xã chúng tôi được khởi dựng từ năm 1790 với tâm nguyện để thờ Thành Hoàng làng, phối thờ Thiên Y An Na, Tiền hiền, Hậu hiền và các anh linh liệt sĩ...

Đình lưu giữ 8 đạo sắc phong do các vua triều Nguyễn ban tặng. Trải qua trên 2 trăm năm, với bao thăng trầm của lịch sử, do chiến tranh, thiên tai tàn phá… có lúc đình gần như bị hoang phế. Tuy nhiên với bề dày lịch sử, nhất là tấm lòng trân trọng bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, chính quyền và người dân xã Diên Toàn đã đồng lòng khôi phục lại, chúng tôi rất vui và tự hào về những giá trị lịch sử, văn hóa của ngôi đình này”.

Trước kia trong đình có rất nhiều hiện vật quý như các sắc phong của vua (triều Nguyễn), trống, mõ, hoành phi câu đối, các loại bàn ghế cổ… nhưng do lũ lụt bị trôi dạt đi nhiều nơi và vào nhà dân, khi xã thực hiện kế hoạch trùng tu lại, nhiều gia đình đã tự nguyện mang ra trả lại cho đình. Đặc biệt trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, đình từng là nơi hội họp của nhiều thế hệ cán bộ cách mạng. Năm 1993, đình hoàn thành việc trùng tu, đồng thời làm các thủ tục đề nghị công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, qua đó, năm 2009 đình chính thức được công nhận Di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh.

Diện tích đất sử dụng của đình hiện nay còn khoảng trên 3.500 mét vuông, trong đó diện tích xây đình và khuôn viên của đình là vào khoảng gần 2 nghìn mét vuông. Hàng năm, cứ vào ngày 17/2 (Âm lịch), xã tổ chức Giỗ đình làng, có khoảng gần 2 nghìn bà con lối xóm hân hoan đến dự và chung vui những thắng lợi trong mùa màng bội thu, chia sẻ với nhau về tình làng, nghĩa xóm, đồng thời cầu cho mưa thuận, gió hòa, quốc thái dân an…
Đây là nét đẹp, thể hiện đúng tinh thần cuộc vận động Toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở ngày càng văn minh, thân thiện.

Theo Hà Trang (Diên Khánh online)
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Lãng mạn bãi Biển Sơn Hào

Bãi biển Sơn Hào trên đảo Quan lạn là một trong những bãi tắm đẹp nhất dành cho du khách du lịch đảo Quan Lạn vào mùa hè. Với vẻ đẹp hoang sơ như chưa có dấu chân người, Sơn Hào với bãi trắng dài mịn, nước trong xanh, những con sóng vỗ dì dào, êm dịu, những cơn gió nhẹ nhàng từ biển thổi vào nhè nhẹ, cái nắng dịu dàng của mùa hè nhưng không chói chang đã tạo nên một thiên đường nghỉ dưỡng dành cho du khách.

Biển Sơn Hào nằm trên hòn đảo du lịch Quan Lạn (xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn), đây là bãi tắm đẹp, hoàn toàn tự nhiên với dải cát dài khoảng 3km, nước biển trong xanh, cảnh quan thơ mộng, hữu tình. Sơn Hào còn hút khách bởi cảnh quan độc đáo của thảm thực vật phong phú, rừng phi lao thơ mộng bên bờ biển.

Một trải nghiệm thú vị nhất khi tới đây là dạo mát trên bãi cát trắng dài thưởng thức không khí trong lành mỗi sớm, cưỡi những con sóng lớn hoặc ngồi trong rừng thông ngắm bình minh, hoàng hôn xuống biển khi chiều về.

Du khách ưa khám phá có thể tìm tới bãi đá tròn, ngắm bàn chân tiên ở ghềnh đá cạnh bãi tắm, nghe truyền thuyết từ những ngư dân trên đảo.

< Sơn Hào độc đáo ở bãi tắm này!

Nằm trên hòn đảo du lịch Quan Lạn (xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn), đây là bãi tắm đẹp, hoàn toàn tự nhiên với dải cát dài khoảng 3km, nước biển trong xanh, cảnh quan thơ mộng, hữu tình.

Sơn Hào còn hút khách bởi cảnh quan độc đáo của thảm thực vật phong phú, rừng phi lao thơ mộng bên bờ biển.

Một trải nghiệm thú vị nhất khi tới đây là dạo mát trên bãi cát trắng dài thưởng thức không khí trong lành mỗi sớm, cưỡi những con sóng lớn hoặc ngồi trong rừng thông ngắm bình minh, hoàng hôn xuống biển khi chiều về.

Du khách ưa khám phá có thể tìm tới bãi đá tròn, ngắm bàn chân tiên ở ghềnh đá cạnh bãi tắm, nghe truyền thuyết từ những ngư dân trên đảo.
Vân Đồn

Ngoài ra, Sơn Hào còn được tô điểm bởi cảnh quan những khu nhà sàn ẩn khuất trong rừng phi lao, hệ thống 8 biệt thự kiểu Bungalow kiến trúc đẹp sát bãi biển, khu biệt thự trong rừng...

Để đảm bảo an toàn cho du khách, gần đây, Sơn Hào được đầu tư hệ thống phao tiêu biển báo, xuồng cứu hộ, lực lượng cứu hộ 8 người thường trực, xuồng cứu hộ...

Vì thế, tháng 6-2014 Sơn Hào vừa được công nhận là bãi tắm đầu tiên trong tỉnh đạt chuẩn phục vụ khách du lịch theo quy định mới.

Lãng mạn và yên bình là cảm giác của không ít du khách khi đến tham quan tắm biển ở bãi Sơn Hào, một điểm đến tuyệt đẹp nằm giữa vùng biển Vân Đồn còn giữ được vẻ nguyên sơ, thơ mộng của cảnh quan.

Tổng hợp
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đặc sắc rừng trâm Minh Châu

Minh Châu là một trong 5 xã thuộc tuyến đảo Vân Hải của huyện đảo Vân Đồn, có bãi biển trải dài gần 2km. Minh Châu còn có một rừng trâm tự nhiên, diện tích rộng khoảng 14 ha, chạy dài 4 đến 5km theo hình vòng cung phủ gần kín cồn cát tương đối bằng phẳng cạnh bãi tắm Chương Nẹp.

< Trâm Minh Châu sống quần tụ thành một dải dọc bãi  Minh Châu hay còn gọi là bãi Chương. Từ biển nhìn vào rừng như một dải hình trăng khuyết ôm lấy làng.

Rừng trâm tồn tại đến nay bởi dân Minh Châu coi loài cây này là 'Thần Mộc' giữ làng. Thân cây trâm chỉ cao chừng 10m nhưng mọc rất dày, bao đời nay đứng chắn gió cát, chắn sóng dữ của những trận bão biển gầm thét đe dọa xóm biển.

< Bên trong rừng, trâm mọc san sát, dày đặc. Theo nghiên cứu trâm ở đây phần lớn cùng một loại và có từ hàng trăm năm trước đây.

Theo người dân trong xã, rừng trâm được những thế hệ người đầu tiên đặt chân lên đảo Minh Châu trồng. Không một ai kể cả những người già trong làng biết rõ nguồn gốc, sự hình thành của rừng trâm.
Tại đây lưu truyền câu chuyện về việc rừng trâm đã che chắn cho làng chài trước một trận bão lớn những năm 1945. Dù bị tàn phá xác xơ sau bão nhưng rừng trâm đã kịp hồi sinh mạnh mẽ xanh tươi trở lại, đơm hoa kết trái dịp cuối năm cứu người dân qua nạn đói hoành hành thời điểm đó.

< Trâm dẻo dai, bền, chắc. Cành lá vươn cao, đan xen vào nhau tạo nên một lá  chắn vững chắc trước gió bão, cát, nước biển.

Minh Châu còn có hẳn một truyền thuyết về rừng trâm kể về mối tình chung thuỷ giữa nàng Trâm và chàng Trương. Nàng Trâm ở nhà trông đảo, chờ đợi chàng Trương ra biển đánh giặc. Chàng đã dũng cảm hy sinh trong trận thuỷ chiến bảo vệ vùng biển quê hương. Nàng Trâm đau đớn khôn nguôi, rồi qua đời. Thần biển thương tình nhờ sóng đưa xác chàng dũng sĩ về với bãi biển.

< Một gốc trâm cổ thụ có tuổi hàng trăm năm.

Một vị thần rừng đi qua nghe chuyện cảm động đã gieo xuống bãi cát những mầm cây xanh tốt mong che chắn cho hai linh hồn. Cây đó mọc lên đan bện vào nhau rất cứng cáp. Nơi đó chính là rừng Trâm. Bãi biển bao quanh ôm lấy rừng Trâm là bãi Trương. Ở đây có rất nhiều con nẹp, một loài hải sản thơm ngon, nên dân làng thường gọi là bãi Trương Nẹp.

Riêng dân làng, người ta tin rằng rừng cây là do chàng Chương hóa thành để bảo vệ và làm đẹp cho người yêu và thôn xóm, còn những con Nẹp dịu ngọt, nép mình dưới những viên đá trên bãi biển là do nàng Trâm hiến tặng cho người thân để thể hiện tài nấu ăn khéo léo của mình. Vì thế khu rừng được các bô lão đặt tên là Rừng Trâm, còn  bãi cát được đặt tên là chương Nẹp.

< Nhiều đoạn đường mòn trong rừng đã được lát gạch sạch sẽ phục vụ khách du lịch tham quan.

Ngày nay, rừng trâm Minh Châu đem lại cảnh quan sinh thái, tô điểm cho bãi tắm tuyệt đẹp trên đảo. Trong tâm thức người dân xã đảo từ lâu rừng trâm đã trở thành một vị thần hộ mệnh cho họ. Thật đặc biệt khi rừng trâm nơi này mọc tập trung, gắn kết với nhau thành một quần thể, một dải dài ven biển ôm lấy làng chài.

< Được bảo tồn tốt ngày nay rừng trâm tô điểm cho cảnh quan của bãi tắm Minh Châu, tạo nên một điểm dừng chân mát mẻ, hấp dẫn cho du khách phương xa.

Trâm là loại cây thân gỗ to, khả năng tái sinh tốt, có thể mọc nhiều nhánh đan xen với nhau. Gỗ trâm tốt chỉ đứng sau: Lim, gụ, sến...

Với sức sống mãnh liệt, rừng trâm mọc tập trung, đan xen, gắn kết với nhau thành một dải như lá chắn vững chắc ôm lấy xã đảo. Càng đi sâu khám phá khu rừng, du khách dễ bắt gặp nhiều gốc trâm cổ thụ, có hệ thực vật phong phú là nguyên liệu cho nhiều bài thuốc quý.

< Dưới bóng mát tán trâm các chương trình, dịch vụ du lịch sinh thái thân thiện với môi trường được du khách rất ưa thích (Dịch vụ du lịch của khách sạn Le Pont, Minh Châu).

Rừng trâm trở thành một sản phẩm du lịch của xã Minh Châu, con đường dẫn tới rừng trâm được tôn tạo, lát gạch thuận tiện cho du khách thăm quan, hóng mát, thưởng thức không khí trong lành, ngắm cảnh hoàng hôn trên biển và nghe những truyền thuyết thú vị về "thần mộc" của Minh Châu. Rừng trâm Minh Châu cũng trở thành ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu cây di sản. Theo các chuyên gia, đây là rừng trâm lớn nhất Việt Nam, với hơn 90% cây thuần chủng.

Du lịch, GO! - Ảnh & chú thích từ báo Quảng Ninh

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Đền thiêng bên bờ biển

(TPO) - Từ thị xã Hà Tĩnh đi khoảng 20 km về huyện Thạch Hà sẽ tới đền thờ Lê Khôi. Ông là người làng Lam Sơn, huyện Thuỵ Nguyên (nay là Thọ Xuân), tỉnh Thanh Hoá.

Lịch sử còn ghi lại: Lê Khôi là con của Lê Trừ; Lê Trừ là anh thứ hai của Lê Lợi. Ngay từ nhỏ Khôi đã là người thông minh, nhân hậu và có dũng khí. Khi chú (Lê Lợi) dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Minh ở Lam Sơn (mùa xuân năm 1418) thì Khôi là một trong những người đầu tiên về đứng dưới cờ. Trong suốt 10 năm trường kỳ kháng chiến, Lê Khôi là một dũng tướng có tài thao lược, một trợ thủ đắc lực của Lê Lợi. Đánh đuổi xong giặc nhà Minh, ông trở thành một trong những khai quốc công thần của nước Đại Việt.

Đời vua Lê Nhân Tông, Lê Khôi được giao trấn thủ Nghệ An. “Năm 1443 Lê Khôi thống lĩnh đại binh đi đánh giặc.

Thắng trận trở về, dọc đường chẳng may ông bị ốm nặng, mất ở chân núi Nam giới, mộ táng tại chóp Long ngâm (thuộc huyện Thạch Hà ngày nay). Năm 1487 Lê Khôi được vua Lê Thánh Tông truy tặng là “Chiêu Trưng Đại vương”... (Ghi ở đền Lê Khôi).

Núi Long ngâm không cao, ngày đêm rì rầm tiếng sóng. Cửa đền nhìn ra phía biển, có hai hàng trụ, ba mặt ghi câu đối ca ngợi công đức của người trung liệt và sự linh thiêng của vùng đất này.

Đền thờ giữ nguyên vẻ cổ kính, gồm ba toà chính: Thượng điện, trung điện và hạ điện. Phía trước là tam quan, có một vườn hoa chanh, hoa bưởi đang mùa nở thơm ngát; phía sau là lăng nhị hầu, nơi có phần mộ của Chiêu Trưng đại vương.

Toà trung điện kiến trúc bên ngoài đơn sơ, bên trong tinh xảo với nhiều đề tài như: tứ linh, bát tiên, tiên đánh cờ, tiên cưỡi hạc...

Vào đền có hai lối: đường bộ và đường biển. Đường bộ phải leo một đoạn núi, xuyên qua rừng cây nhiều tầng, vẫn còn giữ được nhiều nét nguyên sơ. Cảnh vật thật là u nhã. Mùa xuân, mưa bụi bay mù mịt, cây đứng dựa vào nhau trong hơi nước mờ ảo, mướt xanh.

Bạn đã bao giờ nhìn thấy quả thông non chưa ? Nó vừa giống một búp tay, lại như nét chúm môi của người thiếu nữ. Ai đó thốt lên: Phong cảnh nơi này chẳng thua gì trong phim “Thập diện mai phục”! Len qua những khe đá hẹp, đường gần hoá xa, thấp hoá cao, như đang đi lên trời.

Từ biển đi vào còn đẹp hơn nữa. Thuyền cặp bến, có một cây cầu gỗ mong manh, gối đầu vào hai khối đá lớn đỡ chân du khách. Vượt qua khung cửa đá, đặt chân lên cát mịn độ mươi bước là đến cổng đền.

Tôi ngẫu nhiên chứng kiến đoạn đối thoại giữa hai mẹ con khách thập phương với người có lẽ là thủ từ của ngôi đền. “Chúng con từ Hà Nội vào lễ đền đến nay là 10 năm liên tục. Từ khi cháu mới học lớp 6, nay đã tốt nghiệp đại học, ra trường vào làm ở cơ quan bộ rồi đấy ạ! Chào ông đi, con !”. Ông lão móm mém nụ cười tủm: “Không dám. Phúc đức tại mẫu...”.

Theo Hữu Việt (Báo Tiền Phong)
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Ốc còi ở Khe Khoai

(BQN) - Thôn Khe Khoai (thuộc xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ) là nơi người dân chủ yếu làm nghề nông nghiệp, trồng rừng. Khi đến thăm nơi này, các bạn có thể bắt gặp các ngọn núi cao, những địa danh đã đi vào lịch sử như đền Miếu Bà, di tích thành Nhà Mạc v.v.. Không những thế, bạn còn sẽ rất thú vị khi được nếm món đặc sản ốc còi.

Ốc còi có hình giống cái còi, sống chủ yếu trong hang đá ở nơi “thâm sơn cùng cốc”. Vì thế, chỉ những người sống ở vùng núi và thạo nghề, thì mới bắt được ốc còi. Mùa ốc còi bắt đầu từ tháng ba, khi có sấm động mưa rào, cho đến hết tháng tám âm lịch.

Ốc còi còn một tên gọi khác là ốc thuốc, vì theo kinh nghiệm dân gian, loại ốc này thường ăn lá rừng, rêu đá, lá thuốc thảo dược trong rừng nên vị thơm bổ.

Để món ốc còi giữ được hương vị tự nhiên, hương của núi rừng, người dân ở thôn Khe Khoai thường cho ốc đã rửa sạch cùng với lá bưởi, lá sả, củ sả vào chõ và đồ chín, hoặc cho vào túi được đan bằng tre, trên trải tấm lá chuối, lá rong rồi hấp chín. Ốc còi đem chấm với muối trắng có trộn hạt mắc khẻn thì ăn rất ngon.

Ngoài ra còn cách chế biến khác cũng không kém phần hấp dẫn là cho ốc vào nồi cùng với củ sả đã thái lát, một ít lá gừng và một thìa mẻ đã lọc lấy một bát con nước đậy kín đun sôi chừng nửa giờ, cảm thấy hương thơm toả ra ngào ngạt là được. Nước chấm đi kèm không thể thiếu là nước mắm ớt tỏi, gừng thái nhỏ nêm vài giọt nước cốt chanh…

Khi ăn, ta khều ốc bằng gai của cây gai, đừng quên nếm lấy thứ nước thơm dịu của ốc luộc nhé! Hãy từ từ cảm nhận sẽ thấy hương vị của nó quả là… "tuyệt cú mèo"…
Món ốc còi có thể có ở nhiều nơi nhưng bạn hãy tin tôi, ốc còi ở thôn  Khe Khoai là ngon nhất, hương vị đặc trưng nhất.

Theo Long Vũ (Báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS