Cuộc đời là những chuyến đi

RSS

About

Áo vỏ cây của người Cơ Tu

Người Cơ Tu ở đại ngàn Trường Sơn ẩn mình trong các thân cây với chiếc áo đặc biệt khiến họ như “tàng hình” trước kẻ thù. Khi mặc chiếc áo này, họ có thể di chuyển đến bên con thú để săn bắt mà chúng không hề hay biết. Những chiếc áo được làm từ vỏ một loài cây có một không hai của rừng xanh đầy bí ẩn…

Con sông Lăng bắt nguồn từ biên giới Lào, chảy qua Tây Giang rồi hòa vào dòng sông A Vương uốn khúc mỹ miều. Dòng sông trườn mình qua các khe núi, lúc ẩn lúc hiện theo cung đường xa. Từ trên cao nhìn xuống, sông Lăng như con rắn khổng lồ ôm trong mình các bản làng xinh đẹp. Những cánh rừng già nơi dòng sông đi qua luôn ẩn chứa trong mình vô vàn điều kỳ thú.

Xã Lăng, trung tâm hành chính cũ của huyện Tây Giang nằm trên một triền đồi bát ngát, xa xa là mé sông. Thôn Pơ Ning của già làng Clâu Nâm ẩn mình dưới những tán cây xanh rợp bóng. Những mái nhà sàn chen chúc nhau xoay tròn trên một ngọn đồi, chính giữa là gươl của làng. Những nét mộc chạm khắc rất thô sơ về cuộc sống của ngôi làng, từ cảnh săn bắt, tỉa lúa, trồng bắp, đặt bẫy, gài thò, con nai, con hổ, con gấu ngựa, người đàn bà dệt vải…  đều được thể hiện trên các thân cột lớn của gươl. Khách lạ dạo một vòng quanh gươl có thể biết được phần nào cuộc sống, sinh hoạt và những nét tâm linh của bản làng.

Vượt rừng tìm cây

Thấy khách lạ, già Clâu Nâm ngừng tay rựa. Những thanh tre to như chiếc đũa, vót nhọn, một đầu đuôi đã gắn lá tro, hàng chục mũi tên sắp hoàn thành. Già Nâm cho biết, số tên ông vót là để chuẩn bị cho một chuyến vượt rừng già ngược con sông Lăng tìm Tr’rang chứ không phải đi săn thú. Công việc vào rừng của bất kỳ người đàn ông Cơ Tu nào đều đòi hỏi phải mang những thứ vũ khí thô sơ như nỏ, giáo, rựa… phòng thân. Đặc biệt, với người đàn ông 83 tuổi, từng là chiến binh của rừng xanh một thuở, thì việc nỏ tên mang theo của già Nâm là không thể thiếu.

Theo già Nâm thì tr’rang là một loài cây ở rất xa, đầu nguồn con sông Lăng, muốn tìm thấy loài cây này phải rất công phu nên ông chuẩn bị cho một chuyến băng rừng từ sáng sớm. So với cây t’cóng, t’dúi, amướt… thì tr’rang là thứ vỏ cây hảo hạng dùng để làm may áo của người Cơ Tu mà không dễ gì tìm thấy. Theo già Nâm, t’cóng, t’dúi, amướt… đều thuộc họ mít, thân cây có nhiều mủ, vỏ dày mà người Cơ Tu xưa thường lấy về làm áo. “Người Cơ Tu xưa không phải ai cũng giàu có để đủ tiền mua một bộ thổ cẩm. Nhà tôi nên tìm cây rừng mà may áo thôi!” - già Nâm bộc bạch.

May vá, thêu thùa, dệt vải là việc của phụ nữ nhưng với người Cơ Tu ở miền biên giới xa xôi này, đây cũng là việc của cánh mày râu. Để may được một chiếc áo, đàn ông Cơ Tu phải băng rừng vượt suối tìm những cây t’cóng, t’dúi, amướt. Việc tiếp theo là lựa chọn kích cỡ sao cho thân cây khi lột vỏ ra vừa vặn với một chiếc áo. Già Nâm tiết lộ, sau khi khứa một vòng quanh thân cây, người ta phải dùng chính nhành cây của nó để đập dập lớp vỏ cây mà mình định lấy may áo.

Việc đập vỏ cây là cả một quá trình, tay đập phải đều nhau để vỏ cây không bị nát. Người đập phải đi xoay vòng quanh thân cây đến khi nào vỏ cây mềm ra thì tuốt lấy. Người Cơ Tu không lấy thứ gì của núi rừng một cách triệt để và đoạn tuyệt. Chính vì thế mà hàng ngàn năm nay con người và thiên nhiên cứ dung hòa mãi và rừng vẫn xanh nuôi nấng họ bao đời. “Chúng tôi lấy vỏ cây may áo vào mùa hè. Vì vỏ cây dễ phơi khô, sạch sẽ, nhựa cây sẽ mau phai. Đặc biệt là để mùa thu cây vừa lột vỏ có cơ hội thay lớp vỏ khác, rồi vài năm sau mình còn lên lấy tiếp” - Già Nâm nói. Dulichgo

Huyền thoại tr’rang

Trong tất cả loại vỏ cây thì cây tr’rang dệt áo đã trở thành huyền thoại của bản làng. Việc sở hữu một chiếc áo bằng vỏ cây tr’rang trở thành một phẩm vật vô giá mà bất cứ một thanh niên Cơ Tu nào cũng mơ ước. Già A Lăng Phếch - người bạn cùng thời với già Clâu Nâm, cũng là người cùng ông vượt suối băng rừng săn bắt từ nhỏ, tìm vỏ cây may áo, kể rằng: “Cây Tr’rang rất khó gặp. Nghe nói ở thượng nguồn sông Lăng còn 2 cây nhưng chưa ai tìm thấy. Chúng tôi tìm hồi trai trẻ tới chừ mà chưa gặp tr’rang”.

Theo già Phếch mặc áo dệt bằng cây tr’rang thì ấm vào mùa đông, rất mát vào mùa hè, không con muỗi, con mòng, con vắt nào cắn vì nó có mùi hương lạ xua các loài côn trùng ấy. Đặc biệt hơn, khi khoác lên mình chiếc áo bằng cây tr’rang thì các con thú sẽ không nhìn thấy mình. Đôi mắt sáng rực, già Phếch nói: “Nghe những người già xưa nói rằng, nếu mặt áo tr’rang vào mình có thể đi sát con hươu, con nai, sờ tay vào con sóc và chụp cả con chim trĩ mà chúng không bay”.

Nói về sự huyền diệu của chiếc áo, già Nâm tiếp lời: “Khi mặt tr’rang, màu áo điệp với màu cây rừng, nếu mình đứng im hoặc nằm im dưới đất thì kẻ thù cứ tưởng mình là khúc gỗ mục. Lớp vỏ của loài cây này có chức năng khử độc nên nếu tên độc của kẻ thù bắn mà có áo tr’rang chống đỡ thì người không bị trúng độc”. Già Nâm kể rằng thời chống Pháp, làng Pơ Ning chỉ có một người sở hữu chiếc áo ấy. Câu chuyện hàng chục lính Pháp bị hạ bằng tên độc tẩm thuốc từ mủ cây ch’pư trộn với nọc rắn, gan cóc tía, chết một cách bí ẩn khiến kẻ thù khiếp vía. Cùng với lá ngón, tên độc và những chiếc áo từ thân cây màu rơm khô, người Cơ Tu đã giữ bản làng mình bình yên trước quân thù với nhiều súng bom hiện đại.

Nếu như cây t’cóng, t’dúi, amướt muốn dệt thành áo thì phải nấu nước để luộc mềm, sau đó phơi khô và khoét thành áo thì tr’rang ngược lại. Cây tr’rang phải giữ nguyên chất, chỉ đập và phơi khô rồi khâu thành áo mà mặc. Già Clâu Nâm mang gần chục chiếc áo vừa hoàn thành từ mùa thu năm trước ra khoe. Ở cái tuổi gần đất xa trời, cơm áo không còn thiếu thốn, nhưng ông vẫn miệt mài đi tìm chiếc áo tr’rang huyền diệu. Cả chục chiếc áo ông làm từ năm trước cho tất cả thành viên trong gia đình. Chiếc áo xinh xắn nhất ông dành cho người vợ của mình. Một chiếc cho người con trai cả và những cô con gái đều có phần.

Vuốt ve chiếc áo bằng vỏ cây thô mộc, già Nâm nói: “Tôi vẫn mặc cái này khi nhớ về ông bà, tổ tiên mình. Ngày trước người người đều mang cái này. Bây giờ làm lại cho các con mình nhớ lấy quá khứ mà yêu bản làng hơn. Ngày hội lớn của làng chúng tôi buộc các con phải mặc áo này. Mặc cái này múa điệu tâng tung da dá của người Cơ Tu mới đẹp!”.

Chiếc áo bằng vỏ cây dày, cứng và cồng kềnh như bản chất mộc của người vùng cao vậy. Các khuy áo, cúc áo cũng làm bằng cây. Một thân to bằng chiếc đũa, cắt ngang được làm cúc áo. Người mặc áo vỏ cây phải đưa hai tay lên trời rồi cho chiếc áo lồng từ đầu trở xuống thân. “Trông rất thô và mộc, khô cằn nhưng một chiếc áo vỏ cây khoác lên người chừng 5 đến 10 năm mới hư hỏng. Càng mặc, áo càng dẻo dai và bền bỉ” – già Nâm hồ hởi nói.

Mặc vội chiếc áo, dẫn chúng tôi ra giữa gươl, già Nâm mang theo chiếc khèn và cây sáo vừa làm xong. Ngồi giữa gươl, ông già thổi một điệu nhạc du dương như gió vi vút qua các ngọn đồi. Âm điệu bay từ căn nhà tỏa dần về các xóm nhỏ, những đứa trẻ chân trần tụ tập quanh ông. Chúng nghe điệu nhạc sờ vào chiếc áo rồi nghe ông kể chuyện xưa quanh căn bếp bịt bùng. Với tôi, đây là khoảnh khắc tuyệt đẹp, là “bản ngã” của núi rừng bỗng thoáng chốc hiện ra…

Theo Hưng Quốc (Báo Quảng Nam), Du lịch VN...
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Chùa Kim Sơn - Hà Nội

Chùa Kim Sơn còn được gọi là chùa Kim Mã (vì trước kia thuộc thôn Kim Mã), am Vạn Linh (vì chùa thờ các vong hồn chết trận như binh sĩ Tây Sơn trong trận Đống Đa, binh sĩ chết trận thời Pháp đánh Hà Nội những năm 1873,1883), chùa Tàu Mã (vì nơi đây trước kia nuôi ngựa cho nhà Vua).

Đầu tiên vùng này là một nghĩa địa nên có am Vạn Linh thờ các vong hồn. Triều Tự Đức, am Vạn Linh được mở rộng thành chùa Tàu Mã. Sau đó, chùa được trùng tu vào các năm 1898, 1953, giải tam quan được xây dựng và năm 1967 các tượng Phật của chùa Linh Sơn tại phố Nguyễn Trường Tộ bị ném bom nên được chuyển cả lên chùa Kim Sơn.

Bước vào khuôn viên chùa, ta có thể nhìn thấy giải Ngũ môn ở trước chùa 50m. Trong Ngũ môn có treo một quả chuông đồng khá lớn và có đặt một pho tượng Phật. Mặt trước và sau Ngũ môn đều có câu đối viết chữ quốc ngữ. Lại có cả 1 bia khắc bằng chữ Quốc ngữ tên những người cung tiến.
Dulichgo

Qua Ngũ môn là một khu vườn trong có bể non bộ, 2 ngọn tháo và nhiều cây cau. Sau đó đến một sân gạch rồi đến chùa chính, được bố cục ba phần tương đối độc lập.

Chính giữa là tòa Tam bảo thờ Phật, bên phải là Vạn Linh đàn, bên trái là đền thờ Mẫu. Tòa Tam bảo được xây cao lên và thông sang Vạn Linh đàn và đền thờ Mẫu bằng 2 cửa ngách. Nóc đền thờ Mẫu và nóc Vạn Linh đàn được đắp hình lưỡng long trầu nguyệt.

Nóc Tam bảo thì chính giữa có đắp bảng ghi ba chữ Kim Sơn tự, hai bên bảng là 2 con rồng. Trong Tam bảo đắp nhiều bệ thờ thấp dần xuống. Trên bệ thờ cao nhất là bộ tượng Tam thế, bệ thứ hai có tượng A Di Đà, bệ thứ ba có 4 pho tượng, 2 tượng Thích Ca ở giữa và hai bên là tượng Quan Thế Âm Bồ tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.

Tiếp đó có tòa Cửu Long với tượng Thích Ca xung quanh có đặt 12 tượng nhỏ. Sau đó đến án tiền, án ngoại và bệ ngồi tụng kinh làm lễ.

Phía ngoài, bên phải là bệ tượng Đức Ông trước mặt có 3 ngai thờ, bên trái là đức Thánh Hiền. Trên các bệ thờ, ngoài các tượng còn có nhiều đồ thờ như bát hương, lọ hoa, chân nến…Bốn tầng tượng Phật được trang trí bên trên bằng 4 cửa võng trạm trổ rất cầu kỳ. Trong Tam bảo cũng có nhiều hoành phi câu đối và bia đá.

Vạn Linh đàn ở bên phải tòa Tam bảo và trong đặt tượng Phật đem từ chùa Linh Sơn tới. Tượng được đặt trên các bệ. Tượng A Di Đà ở bệ trên cùng. Tiếp đến là Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát. Rồi đến tượng Di Lặc ở tầng thứ ba. Tầng bốn có 2 tượng Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.

Tầng năm là tòa Cửu Long nhưng không còn tượng Thích Ca. Tầng sáu là 2 tượng Nam Tào, Bắc Đẩu. Ngoài cùng là hương án thờ Phật với 2 bên là 2 hương án thờ Vạn Linh.

Ngoài ra trong Vạn Linh đàn cũng có hoành phi câu đối, bát nhang, chuông, bia… Đền thờ Mẫu ở bên trái tòa Tam bảo. Phần hậu cung trong cùng đặt 1 khám thờ trong có 3 tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Bà Chúa Thượng Ngàn, Thủy Tinh công chúa. Phía dưới khám gỗ có đặt 2 tượng nữ Thị vệ với nhiều bát nhang.

Phần bên ngoài có hương án trên đặt 3 ngai thờ Hùng Vương ở giữa, hai bên là hai bệ thờ mỗi bên có 3 tượng nữ Thị vệ và binh khí như long đao, kiếm. Phía sau tòa Tam bảo, Vạn Linh đàn và nhà Mẫu có nhà hậu để thờ các vị sư Tổ trụ trì tại chùa Kim Sơn đã quá cố và cũng để cho sư ở. Cạnh nhà hậu là cổng hậu trông ra phố Kim Mã ngày nay.

Trước kia cứ đến mồng 5 tháng giêng ngày giỗ trận, chùa Kim Sơn đều tổ chức tế vong hồn tướng sĩ Tây Sơn chết trong trận Đống Đa. Chùa đã được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa năm 1985.

Theo Hoangphaphanoi.com, ảnh internet
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Mùa hoa sữa trên xứ Phan Rang

(VNE) - Tưởng chừng như ở Phan Rang chỉ có loài hoa xương rồng đặc trưng, vậy mà hoa sữa nổi tiếng đất Hà Thành vẫn âm thầm tô đẹp bức tranh cuộc sống phố thị nơi nắng gió này.

Không giống như ở Hà Nội, hoa sữa xứ Phan Rang ra hoa trễ hơn, thường rộ vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 và kéo dài đến tận tháng 12. Tuy nhiên, điều này không làm kém đi sự thi vị mà mang một sắc thái riêng của mùa hoa sữa trên vùng đất “xương rồng nở hoa”.

Cái tên mỹ miều “hoa sữa” cũng đủ mang đến cảm giác ngọt ngào, lãng mạn, hạnh phúc và tất nhiên có mùi hương thơm lừng nữa. Vào mỗi độ hoa nở, không gian phố phường như được phủ bởi làn hương quyến rũ và mãn nhãn, lan tỏa đi khắp các tuyến phố, con đường trong thành thị.

Một buổi sáng, dạo một vòng quanh các con đường 16/4 gần Nhà Văn hóa, đường 21/8 gần trường THPT Nguyễn Trãi, công viên 16/4 hay trường THPT Ischool bất chợt cảm nhận được mùi hoa sữa dịu nhẹ, lướt qua sóng mũi khiến cho những người con xa Hà Nội chợt nao lòng đầy xao xuyến.

Đêm về, mùi hương hoa sữa nồng hơn ban ngày rất nhiều. Trong không gian lắng đọng, xe cộ cũng dần thưa, là dịp cảm nhận rõ ràng nhất cái hương vị của hoa sữa lan tỏa áp sát vào má, một cảm giác mới đặc biệt làm sao...

Nó vừa lãng mạn, trầm lặng lại vừa mang chút suy tư trong lòng của một người sống nội tâm và đa cảm. Những ai không quen sẽ có cảm giác khó chịu và nhanh chân vụt ra khỏi mùi hương ấy, còn với ai đã một lần trót yêu và quý mến loài hoa này sẽ không bỏ lỡ cơ hội lưu giữ và khắc ghi mãi những trải nghiệm đáng nhớ.

Cuối thu, những cơn gió ở Phan Rang thổi mạnh hơn, những bông hoa sữa từng đợt, từng đợt rơi rụng bất chợt xuống lòng đường, ùa qua từng con phố, ngõ hẻm. Nhắm mắt lại và cảm nhận mùi hương hoa sữa thoang thoảng đâu đây. Từng dòng ký ức đã nhạt phai phút chốc lại ùa về theo làn hương vào sâu trong tâm trí.

Theo Xuân Lộc (Vnexpress)
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Miền đất Ấn - Trà huyền thoại

(BQN) - Có lần, anh bạn tôi làm giáo viên ở Quảng Ngãi rủ rê: “Ra chỗ tớ chơi đi, tớ sẽ đưa cậu “giang hồ vặt” một chuyến khắp tỉnh luôn”. Vốn là người thích đi đây đi đó, tôi bỏ mấy bộ quần áo vào ba lô, thế là lên đường...

Anh bạn thân ra đón tôi ở chân cầu Trà Khúc. Chúng tôi đi về nhà anh ở xã Tịnh Thiện, huyện Sơn Tịnh, theo con đường ven sông. Gió sông Trà mát lành như chào đón tôi với tấm lòng hiếu khách. Mà quả thật, mảnh đất này hiếu khách đến lạ. Cả nhà anh đón tôi như một đứa con xa lâu ngày chưa về nhà. Đến bà anh năm nay đã gần 90 tuổi rồi, lưng đã còng, nhưng nhất định phải lụi hụi làm cho bằng được món đặc sản “ram bắp” thết đãi khách. Tôi chẳng biết món này là gì nên cũng tò mò theo bà xuống bếp.

< Ram bắp Quảng Ngãi.

Thì ra, đây là món ăn làm từ ngô non. Những hạt ngô được nạo ra sau đó trộn với một số gia vị rồi cuộn lại theo kiểu ngoài Bắc gói bánh đa nem. Sau đó, người ta mang chiên và gọi là chả ram. Chỉ có điều dân xứ này vốn nghèo nên ít làm chả ram từ thịt mà hay làm từ bắp. Nếu một lần bạn ghé vào nhà người quen mà được thết đãi món ram bắp thì có lẽ cả đời bạn sẽ nhớ mãi cái hương vị thơm thảo của tình người hoà quyện trong khó nghèo.

Người ta thường có câu: Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo. Cũng đúng thôi, bởi xưa nay, Quảng Ngãi là một trong những tỉnh nghèo nhất miền Trung lại phải thường xuyên chống chọi với mưa bão, lũ lụt. Người Quảng Ngãi có được ngồi yên bao giờ. Nhưng giờ đây, Quảng Ngãi đã tạo cho mình một diện mạo khác xưa nhiều lắm. Mảnh đất của sự giao hoà giữa núi đồi hùng vĩ và sông nước thơ mộng, với hàng trăm di tích lịch sử huyền thoại của văn hoá Sa Huỳnh, thành cổ Châu Sa, Cổ Luỹ cô thôn… đang được đánh thức từng ngày để phục vụ du lịch.

< Núi Thiên Ấn bên dòng Trà Khúc.

Anh bạn tôi “rinh” ở đâu chiếc xe Cub 81 ra và nháy mắt cười phân bua: “Nhà tớ chỉ có chiếc xe người ta vẫn gọi là “xe chở heo” này thôi, nhưng đả m bảo chở cậu đi khắp tỉnh vừa chắc chắn lại vừa tiết kiệm”. Không còn đợi chờ gì nữa, chúng tôi hăm hở lên đường. Điểm đến đầu tiên của chúng tôi là núi Thiên Ấn, thuộc địa phận huyện Sơn Tịnh. Đường lên núi cũng dễ đi thôi, quanh co một chút, nhưng xe máy cũng có thể lên đỉnh núi được.

Từ xưa đến nay, người ta vẫn xem ngọn núi này như “đệ nhất phong cảnh” của Quảng Ngãi. Cái tên Thiên Ấn xuất phát từ mỹ danh “Thiên ấn niêm hà”. Nghĩa là, người ta tưởng tượng rằng, ngọn núi này như một chiếc ấn mà nhà trời đã đóng xuống dòng Trà Khúc mênh mông. Sự sóng đôi giữa núi Thiên Ấn và sông Trà Khúc đã trở thành biểu tượng của Quảng Ngãi để cho người ta gọi nơi đây là mảnh đất Ấn - Trà.

< Từ đỉnh Thiên Ấn nhìn xuống Quảng Ngãi.

Đứng trên đỉnh ngọn Thiên Ấn nhìn xuống mặt nước Trà Khúc lững lờ trôi xuôi bạn sẽ thấy lòng mình thật thanh thản. Chẳng thế mà xưa kia, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại chọn cho mình một góc phía Tây để làm chốn an nghỉ vĩnh hằng. Tôi thắp nén nhang thơm tưởng nhớ người nhân sĩ trí thức đáng kính và chợt nhận ra từ nơi đây có thể bao quát hết cả một khu vực rộng lớn và hữu tình. Thế mới biết, cụ Huỳnh tinh tế đến mức nào. Ẩn hiện sau những hàng cây cổ thụ ở phía đông ngọn núi là một ngôi cổ tự. Được biết, năm 1717, chúa Nguyễn đã ban biển ngạch cho ngôi chùa này. Chùa còn được người ta biết đến với cái giếng Phật sâu hun hút và quả chuông Thần được đúc năm 1845.

< Một góc trung tâm huyện Trà Bồng.

Từ Sơn Tịnh, chúng tôi ngược lên các huyện phía tây của Quảng Ngãi. Tôi chọn điểm đến là huyện Trà Bồng. Càng đi xe của chúng tôi càng như lạc vào “ma trận” của đá. Có lẽ vì phải vươn lên từ đá mà cỏ cây và con người nơi đây ẩn chứa một sức sống mãnh liệt như cây quế đang vươn cao cùng tháng năm. Con gái nơi đây đẹp trong sự rắn rỏi đến lạ thường. Chả trách mà họ đã làm nên cuộc khởi nghĩa Ba Tơ đáng nhớ.

Ra về, có một mùi hương gì rất quen, mãi phảng phất theo tôi. Phải rồi, chính cái hương quế Trà Bồng thơm tho bay ra từ ca khúc của một nhạc sĩ nọ đang len lỏi vào đầu óc tôi, làm tôi ngây ngất. Từ Trà Bồng về, chúng tôi lại xuống Tư Nghĩa để ghé thăm địa danh Thu Xà, nơi ghi dấu cuộc đời một con người tài hoa mà yểu mệnh: Thi sĩ Bích Khê. Bích Khê, nhà thơ được coi là biểu tượng trong phong trào Thơ Mới, là người đã dùng “Tinh hoa” và “Tinh huyết” đời mình để tạo dựng một lối đi riêng.

Khi bước chân rong ruổi đã thấm mệt, cả hai đang tính rủ nhau về thì bỗng nhiên một anh bạn miền biển gọi điện “kèo” tôi xuống cho bằng được. Nơi chúng tôi đến là cảng cá Sa Kỳ. Nhà anh ở cách biển chỉ vài bước chân. Đến đây, tôi mới biết lý do mà anh mời tôi xuống là cha anh - một ngư ông của biển cả - vừa mới cho thuyền đánh cá cập bờ. Anh chọn những con cá nục đuôi đỏ tươi nhất, ngon nhất lên để mời người bạn phương xa.

Ngồi bên mép biển, nhâm nhi món cá nục nướng cùng men say của bia Dung Quất với mấy người bạn thân thì quả thực, với tôi, không có cái thú nào bằng. Nếu bạn có dịp ra vùng này, bạn cũng nên ghé thăm khu chứng tích Sơn Mỹ (xã Tịnh Khê, Sơn Tịnh) để thấu hiểu nỗi đau thương của 504 đồng bào ta trong trận thảm sát ngày 16-3-1968. Chỉ một vài hiện vật còn loang lổ vết đạn ở đây cũng đủ để tố cáo tội ác dã man của kẻ thù.

Khép lại cuộc hành trình của mình, tôi lên xe xuôi về phía Nam. Bãi biển Sa Huỳnh (huyện Đức Phổ) dần hiện ra trước mắt tôi với rừng dừa xanh, muối trắng và thoai thoải bờ cát vàng. Tôi nhớ, hình như Xuân Diệu có lần cũng phải thốt lên: Hỏi mình biển đẹp vô ngần/ Sóng xanh như đến dừng chân Sa Huỳnh. Và tôi cũng hiểu rằng, miền đất Ấn - Trà huyền thoại này sẽ còn là nơi chúng tôi phải dừng chân thêm nữa...

Theo Phạm Văn Học (Báo Quảng Ninh)
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Tắm suối nơi thác nhỏ rừng Ninh Thượng

(NLĐ) - Trong cái nắng hè nắng như đổ lửa của miền Trung, mời độc giả cùng theo chân bạn đọc Tay Lãng Du đến với thác nhỏ ở xã Ninh Thượng (huyện Ninh Hòa, Khánh Hòa) để ngâm mình dưới dòng nước mát lành.

< Suối thác Ninh Thượng mùa kiệt nước.

Qua cầu đá Trắng đẹp tuyệt, dòng suối Mơ trong vắt, những rẫy mía xanh ngát và rừng cây bạch đàn cao vút, thác Ninh Thượng hiền hòa hiện ra trước mắt giữa bao la đá núi và rừng hoang.

< Vượt Suối Mơ trong vắt để đến với thác Ninh Thượng.

Nằm ở hạ nguồn của Thác Bay, thác Ninh Thượng được bao bọc bởi những cánh rừng còn rất hoang sơ mà chỉ có người dân địa phương mới biết được. Có thể tóm gọn về thác Ninh Thượng bằng một câu:  “Đẹp nhất vào mùa hè, rực rỡ hùng vĩ nhất khi mưa về”.

< Thác Ninh Thượng mùa ít nước nhưng vẫn tuôn đổ.

Vào mùa nước lớn, ta chỉ có thể ngắm nhìn dòng thác ào ào tuôn chảy từ xa. Mùa này, cây cối đâm chồi nảy lộc, lan rừng, lộc vừng khoe sắc, cá núi nhiều vô kể nên người dân tha hồ buông lưới bắt cá, ếch nhái...
Dulichgo

< Bao la đá núi và rừng hoang.

Trong khi đó, mùa hè nước ít chính là cơ hội duy nhất trong năm để ngang dọc theo suối khám phá thác và... tắm mát.

Men theo suối lên thác, bên tai róc rách tiếng nước chảy, trước mắt tung tăng cá lượn, vi vu trên đầu là gió rừng hòa cùng tiếng chim muông giữa bầu trời xanh trong…

< Đá cá mập.

Mùa hè thác hiền hòa tung bọt trắng xóa, êm ả chảy len lỏi qua những tảng đá khổng lồ lạ mắt với những cái tên mộc mạc nhưng độc đáo như: ông Dựng, bà Ngồi, đá Bàn Cờ, đá Khủng Long, đá ốc bươu...

< Đá khủng long.

Không có giây phút nào thư thái hơn khi đong đưa trên những tảng đá ngắm cảnh núi rừng bao la, nghe bản tình ca thác, gió và chim rừng.

Xa xa, vài thanh niên thong dong nhịp cần. Cá suối ngon, nước suối ngọt, như khẳng định chắc nịch của người dân địa phương: “Con gì bắt ở suối này ăn cũng ngon, nhưng phải nấu bằng nước suối!”.

< Thác như máy nước thủy lực tự nhiên.

Để hòa mình hoàn toàn vào thiên nhiên, bạn hãy một lần thử tắm thác. Có rất nhiều hồ tự nhiên hình thành dưới chân thác Ninh Thượng, nước trong veo mát lành.

Dòng thác nhỏ tuôn trào như những máy tắm thủy lực tự nhiên. Ghé lưng dưới một cái “máy tắm thủy lực” này, bạn sẽ nghe cảm giác mát rười rượi lan tỏa toàn thân, bao mệt nhọc như tan biến.

Theo Tay Lãng Du (Báo Người Lao Động)
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

Núi Bà - Đá Vọng Phu

Ở vào phía Nam đầm Đạm Thủy, nằm trọn trên địa phận huyện Phù Cát, choán một diện tích ước chừng trên bốn chục cây số vuông, sừng sững một quần thể núi non mà từ bao đời nay được coi là danh sơn của Bình Định. Đó là núi Bà (Bà sơn).

Trong các sách cổ, núi Bà còn có tên chữ là Phô Chinh đại sơn. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: "Núi Bà ở phía đông nam huyện Phù Cát, có tên nữa là Phô Chinh, thế núi cao hùng vĩ, đỉnh núi có phiến đá lớn, bằng phẳng như cái mâm, chân núi có khối đá sừng sững như hình người, dân địa phương lập đền thờ, đảo vũ thường nghiệm".

Quần thể núi Bà có tới trên sáu chục ngọn cao, thấp khác nhau, trong đó nổi bật lên là hòn Hang Rái ở phía đông bắc, hòn Hèo ở phía Đông - Nam và đỉnh cao nhất, tới gần 900m, là hòn Chuông (Chung sơn) ở phía Tây. Nhìn từ xa, hòn Chuông có hình tròn trặn, trội vượt hẳn lên trông như hình một quả chuông úp. Nếu nhìn toàn cảnh núi Bà thì thấy vùng quanh hòn Chuông tương đối bằng phẳng, giống như một cái chiêng đồng úp sấp mà núm chiêng chính là hòn Chuông.
Có lẽ bởi dáng núi như vậy mà người ta đã đặt tên chữ cho núi Bà là Phô Chinh đại sơn (nghĩa là núi lớn bày chiêng).

Quần thể núi Bà trùng trùng, điệp điệp trông xa như liền mạch, kết khối, nhưng tới gần thì xen giữa các sơn khối nhấp nhô là những thung lũng cây cối tốt tươi, bốn mùa được tưới mát bởi hàng chục khe, suối từ trong nguồn chảy ra. Dân trong vùng cư ngụ, làm ăn sinh sống trong các thung lũng này. Do vị thế hiểm trở, đường đi tới các thung lũng và qua lại giữa các thôn ấp phải vượt qua những đèo lởm chởm đá tai mèo với những cái tên đèo Nhở ở phía Bắc, đèo Lớn (hay còn gọi là đèo Tố Mộ) ở phía Nam, đèo Mũi Đá Giăng ở phía Đông…

Núi cao án ngữ gió biển khiến cho những động cát phía Đông dồn lại, lâu ngày nổi lên thành truông, vun lên thành gò. Địa hình đèo núi, cát đống mà thiên nhiên tạo ra như những khó khăn, thử thách với con người sinh sống ở đó, nhưng với tính tình lạc quan, yêu đời, yêu quê hương, người Bình Định đã thể hiện chúng trong ca dao một cách trữ tình, nên thơ. Một trong những áng ca dao như thế còn lưu lại đến ngày nay là lời đối đáp của một đôi trai gái. Người con gái hát:

Anh về em cũng muốn theo,
Sợ truông cát nóng, sợ đèo đá dăm.
Chàng trai an ủi, vỗ về người yêu:
Đá dăm anh đã lượm rồi,
Còn truông cát nóng em bồi bùn non.

Núi Bà uy nghi, huyền diệu với bao điều kỳ bí mà mỗi nơi chốn, mỗi cái tên đều có một sự tích. Ở địa phận thôn Chánh Oai, trên một ngọn núi cao, có hai khối đá, một cao, một thấp trông tựa hình người. Từ phía biển nhìn vào giống như một người đàn bà tay dắt đưa con đang ngóng nhìn ra phía khơi xa. Dân địa phương gọi đó là hòn Vọng Phu. Tác phẩm như có hồn của tạo hóa đã khiến con người phải động lòng.

Khối đá xanh đứng hoài dưới nắng mưa, thi gan cùng năm tháng đã biểu tượng cho lòng chung thủy của nghĩa vợ chồng trong tâm thức dân gian. Nó cũng giống như hòn Tô Thị gần Tam Thanh xứ Lạng. Có điều sự tích vợ ngóng chờ chồng thì mỗi nơi một khác. Nàng Tô Thị ở Lạng Sơn phải chia lìa với chồng do loạn lạc, chiến tranh. Chồng nàng chẳng biết đang phải trấn thủ, lưu đồn nơi nào mà biệt âm vô tín, khiến cho nàng phải bồng con ngóng đợi cho đến ngày hóa đá.

Hòn Vọng Phu ở Bình Định lại là hóa thân của một phụ nữ gặp cảnh đời éo le. Sự tích kể lại rằng, từ thuở xa xưa có một gia đình chỉ sinh được hai người con, một trai, một gái. Lúc còn nhỏ tuổi, người anh lỡ tay làm người em bị vỡ đầu, máu ra lênh láng. Sợ quá, người con trai bỏ nhà trốn đi biệt xứ.

Thế rồi năm tháng qua đi, sự đời trớ trêu lại se kết họ nên duyên vợ chồng. Hạnh phúc giản dị và êm đềm đã đến với họ, nhất là sau khi hai người sinh hạ được một đứa con. Nào ngờ đến một ngày nọ, người chồng tình cờ phát hiện ra rằng người vợ chính là em gái ruột của mình.

Đau đớn và ân hận đến khôn cùng, người chồng đành lặng lẽ bỏ đi không một lời giã biệt. Không mảy may hay biết về duyên cớ ra đi của chồng, người phụ nữ thương nhớ khôn nguôi mới dắt con lên ngọn núi ngóng trông cho đến khi hóa thành đá. Có lẽ chẳng mấy ai tin vào tính xác thực của sự tích huyền thoại này, nhưng nó cứ được truyền từ đời này qua đời khác như một lời nhắc nhở và gửi gắm vào đó sự cảm phục đức thủy chung, một phẩm hạnh có thực của người phụ nữ Việt Nam.

Núi Bà được biết đến nhờ thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú và những nơi linh địa, nhưng sự nổi tiếng của quần thể núi này phần nhiều lại do những gì con người làm ra. Núi Bà đã chứng kiến tất cả những bước thăng trầm của lịch sử quê hương, còn mang trong mình biết bao di tích lịch sử.

Nơi đây còn giữ lại những phế tích cổ kính từ thuở Bình Định còn là Chiêm đô, những dấu ấn đậm nét của phong trào Tây Sơn quật khởi và đặc biệt là chứng tích một căn cứ cách mạng quan trọng trong những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Trong lòng người dân Bình Định, núi Bà dường như đã trở thành một trong những biểu tượng của quê hương, của niềm tin và lòng tự hào.

Theo Địa chí Bình Định
Du lịch, GO!

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS

7 bước chuẩn bị để leo núi an toàn

(VNE) - Nghiên cứu kỹ điểm đến và rèn luyện thể lực mỗi ngày để có sức khỏe tốt, giúp nhanh chóng vượt qua mọi trở ngại là những bước đầu tiên cho kế hoạch leo núi.

< Trước khi bắt đầu chuyến đi, bạn cần ngiên cứu kỹ địa hình cũng như điều kiện thời tiết vùng núi định đến.

Leo núi là bộ môn thể thao, đồng thời là hình thức du lịch hầu như dân phượt mạo hiểm nào cũng quan tâm. Mỗi năm, hàng nghìn người lại đổ về chinh phục những đỉnh núi trên khắp thế giới. Để bảo đảm cho chuyến leo núi an toàn, bạn có thể tham khảo các bước dưới đây.

Nghiên cứu tổng thể

Trước khi bắt đầu hành trình, bạn hãy nghiên cứu thật cụ thể, chi tiết về địa hình cũng như kỹ năng leo núi. Làm tốt khâu này, bạn sẽ biết rõ mình đang có những yếu điểm gì và cách khắc phục ra sao. Đọc sách hướng dẫn hay tìm kiếm thông tin từ internet là những nguồn tin hữu ích cho bạn. Trước mỗi chuyến đi, ít nhất bạn phải nắm được điều kiện thời tiết vùng núi đó ra sao hay thời điểm nào khởi hành là phù hợp nhất.

Lựa chọn điểm đến

Nếu chưa từng leo núi, bạn nên bắt đầu “sự nghiệp” bằng những ngọn núi quen thuộc, vốn được đa số dân phượt chinh phục trước đó. Độ “dễ” của ngọn núi có thể khiến bạn không thỏa mãn nhưng chúng sẽ để lại nhiều kinh nghiệm, giúp bạn nắm được khả năng và lượng sức cho những chuyến leo núi khác.

Lên dây cót tinh thần

Một trong những điều quan trọng bậc nhất với bất cứ ai leo núi là phải có tinh thần thép. Sẽ có những trường hợp bạn buộc phải ra quyết định nhanh mà đôi khi chỉ cần sai một ly, đi một dặm. Để luyện tập khâu này, bạn có thể tự đặt ra nhiều tình huống và tìm câu trả lời.

Rèn luyện thể lực

Leo núi cần sức bền tốt với yêu cầu quan trọng là một cơ thể khỏe mạnh. Bạn không thể mang bộ dạng như trong văn phòng cùng chiếc bụng phệ và trèo lên các đỉnh núi. Tập thể dục hàng ngày là biện pháp hữu hiệu giúp cơ thể dần thích nghi với kế hoạch leo núi, đồng thời trở nên săn chắc. Những môn thường được khuyến khích gồm chạy bộ, đi bộ đường dài, nâng tạ, leo núi nhân tạo và thậm chí là cả trượt tuyết.

Chuẩn bị dụng cụ

Các dụng cụ leo núi như đai, găng tay, dây, móc, kính râm, kem chống nắng… có thể dễ dàng mua ở những cửa hàng chuyên dụng. Tốt nhất bạn nên mua hoặc đặt thuê trước chuyến đi ít nhất một tuần. Nhiều vật dụng tưởng chừng như vô ích nhưng bạn đừng nghĩ chúng thừa thãi bởi sẽ không ai biết những tình huống nào có thể xảy đến. Ngay cả khi tất cả số dụng cụ này là đồ đi thuê, vẫn có một vài món nhỏ bạn phải tự mua cho chính mình như giày bốt hay quần áo nhiều lớp.

Trao đổi kinh nghiệm với bạn bè

Gia nhập các đoàn leo núi sẽ giúp bạn giảm những rủi ro đáng tiếc khi thực hiện chinh phục các đỉnh cao. Những mối quan hệ, sự hướng dẫn tận tình và cả niềm tin lẫn nhau giữa các thành viên làm bạn hiểu kỹ hơn về điểm đến, kinh nghiệm cũng như độ an toàn.

Mua bảo hiểm

Nếu không sống gần ngọn núi, bạn sẽ phải đặt vé, phòng khách sạn và thậm chí là cả xin visa. Một trong những bước quan trọng là đừng quên mua bảo hiểm. Nhiều quốc gia trên thế giới còn yêu cầu du khách phải có bảo hiểm du lịch mới đồng ý cấp visa. Chúng sẽ bảo đảm cho bạn mức bồi thường với nhiều trường hợp khác nhau, từ mất đồ đạc, chăm sóc y tế đến tình huống xấu nhất như tử vong.

Theo Trần Hằng (Vnexpress)
Du lịch, GO!

Bí kíp bỏ túi giúp leo núi an toàn
Bí kíp phượt núi an toàn
Kỹ năng leo núi đá

  • Digg
  • Del.icio.us
  • StumbleUpon
  • Reddit
  • RSS